Thế nào là có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự?

Thế nào là có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Thế nào là có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Câu hỏi 1. Tội phạm mà các bị cáo thực hiện rất nghiêm trọng. Khi áp dụng luật, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đúng điểm, khoản, điều luật của Bộ luật Hình sự. Nhưng khi quyết định hình phạt lại xử quá nhẹ hoặc cho hưởng án treo. Như vậy có vi phạm nghiêm trọng trong áp dụng Bộ Luật Tố tụng Hình sự không? Thế nào là có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử?

Trả lời:

Tại mục 4.4 Phần I Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có quy định: “Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là trường hợp Bộ luật Tố tụng Hình sự qui định bắt buộc phải tiến hành hoặc tiến hành thủ tục đó, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc thực hiện không đúng, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện”.

Khái niệm này đã chỉ rõ 4 đặc điểm về vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng gồm:

– Phải có hành vi không thực hiện những quy định bắt buộc trong Bộ luật Tố tụng Hình sự khi tiến hành tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tung, người tiến hành tố tụng;

– Hoặc có hành vi thực hiện, nhưng thực hiện không đúng theo trình tự, thủ tục đã quy định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng;

– Các hành vi trên phải xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự…;

– Hoặc việc bỏ qua hoặc thực hiện không đúng không đầy đủ thủ tục làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện.

Ví dụ: Đối với các vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc bị truy tố ở khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bắt buộc phải chỉ định luật sư, nhưng bỏ qua không thực hiện là xâm phạm nghiêm trọng đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo đã được pháp luật quy định.

Những vi phạm thuộc các trường hợp trên đều coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và phải được điều tra, truy tố lại hoặc xét xử lại. Những vi phạm ngoài phạm vi khái niệm này thì được coi là những vi phạm tố tụng không nghiêm trọng và chỉ thực hiện việc kiến nghị sửa chữa, khắc phục.

Ví dụ: Vi phạm về thời hạn điều tra, thời hạn xét xử …cũng là những vi phạm tố tụng nhưng không thuộc trường hợp vi phạm nghiêm trọng.

Đối với trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng điểm, khoản, điều luật của Bộ luật Hình sự nhưng khi quyết định hình phạt lại xử quá nhẹ hoặc cho hưởng án treo thì không thuộc trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và Tòa án cấp phúc thẩm không có quyền hủy án trong trường hợp này với lý do vi phạm nghiêm trọng tố tụng.

Tuy nhiên, việc xử phạt quá nhẹ hoặc cho hưởng án treo không đúng là đã có việc đánh giá và áp dụng không đúng, không đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cũng như việc cho hưởng án treo không đúng với các điều kiện do pháp luật quy định. Vấn đề đặt ra là Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa án sơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo không? Theo thực tiễn áp dụng pháp luật chung thì khi xét xử phúc thẩm cần phân biệt các trường hợp cụ thể để xử lý như sau:

– Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt hoặc không cho bị cáo hưởng án treo hoặc vừa kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt, vừa không cho bị cáo được hưởng án treo, nếu có căn cứ thì Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa án sơ thẩm theo hướng đó.

– Trường hợp người bị hại kháng cáo vừa yêu cầu tăng hình phạt, vừa yêu cầu không cho bị cáo hưởng án treo, nếu có căn cứ thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng có quyền sửa án theo hướng đó.

– Trường hợp người bị hại chỉ kháng cáo yêu cầu không cho hưởng án treo thì không phải là kháng cáo tăng hình phạt, không thuộc phạm vi quyền kháng cáo của người bị hại nên kháng cáo không hợp pháp, Tòa án cấp phúc thẩm không có quyền sửa án.

Nguồn: TANDTC

Ly hôn và việc phân chia tài sản

anh-dep-thien-nhien

Câu hỏi: Tôi lấy chồng và về ở nhà chồng từ khi cưới cho đến nay. Gần 20 năm làm dâu, chăm sóc gia đình, chăm sóc bố mẹ chồng thì bây giờ chồng tôi đòi li hôn. Vậy tôi có được yêu cầu chia tài sản mà vợ chồng tôi góp vào gia đình bố mẹ chồng không?.

Luật sư trả lời:

Hiện nay nhiều trường hợp các bà vợ sau thời gian chung sống, ở nhà lo công việc gia đình cũng như chăm sóc bố mẹ chồng thì mới phát hiện ra chồng đã ngoại tình, có con riêng và về nhà đòi li dị. Nhiều bà vợ vì lo sợ nếu li dị thì mình không có tài sản (vì tài sản chung của cả gia đình chồng) nên đã chấp nhận chồng có vợ bé mà không dám phản đối.

Nhưng thực tế trong Luật Hôn nhân và gia đình đã có quy định việc xác định tài sản chung của vợ chồng khi chung sống cùng gia đình cũng như xác định lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập.

Việc chia tài sản vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình được quy định như sau:

1. Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia.

Như vậy việc chia tài sản khi vợ chồng sống cùng gia đình thì Tòa án sẽ căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình để xác định tài sản của vợ chồng và chia theo nguyên tắc chung đã được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình.

Khi ly hôn phân chia tài sản như thế nào?

TOUR-NHA-TRANG-TEAMBUILDING-VINPEARL-LAND

Câu hỏi: Khi vợ chồng li hôn thì tài sản được chia như thế nào?

Luật sư trả lời: Khi hai vợ chồng do mâu thuẫn hay một số lý do nào đó mà không thể chung sống với nhau thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc li hôn.

Thường trong các vụ li hôn thì vấn đề được quan tâm và gây ra tranh chấp giữa hai bên đó là giải quyết việc phân chia tài sản vợ chồng.

Khi vợ chồng đang hạnh phúc thì không ai để ý hay quan tâm đến việc tài sản của vợ chồng như thế nào. Nhưng khi ly hôn thì vấn đề tranh chấp giữa hai vợ chồng là việc tài sàn nào là tài sản chung, công sức đóng góp của mỗi người và phân chia như thế nào?

Để giải quyết việc phân chia tài sản chung vợ chồng khi li hôn thì tại Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình có quy định về nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn như sau:

1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Như vậy trước hết việc phân chia tài sản khi li hôn do vợ và chồng tự thỏa thuận.

Nếu không thỏa thuận được thì mới yêu cầu Tòa án giải quyết và xác định đâu là tài sản riêng, đâu là tài sản chung vợ chồng.

Tài sản chung vợ chồng được phân chia theo nguyên tắc chia đôi, nhưng xem xét đến hoàn cảnh của mỗi bên, công sức đóng góp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con như quy định trên.

Ly hôn do yêu cầu từ một phía

Luật sư doanh nghiệp SBLaw
Luật sư doanh nghiệp SBLaw

Đương sự hỏi: Tôi muốn li hôn với chồng như chồng không đồng ý. Vậy tôi phải làm như thế nào?

Luật sư trả lời:

Theo quy định tại Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình có quy định về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn như sau:

“1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn.

2. Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn”.

Như vậy nếu bạn muốn li hôn với chồng thì có quyền đơn phương yêu cầu li hôn mà không cần bắt buộc có sự đồng thuận của người chồng.

Còn việc thụ lý đơn yêu cầu li hôn được thực hiện theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự.

Các tài liệu cần nộp khi yêu cầu ly hôn gồm:

1, Đơn yêu cầu ly hôn (Theo mẫu)

2. Giấy chứng nhận kết hôn ( bản chính).

3. Bản sao giấy khai sinh của con (nếu có con).

4. Sổ hộ khẩu gia đình ( bản sao có công chứng hoặc chứng thực). Nếu tạm trú phải có giấy khai báo tạm trú hoặc xác nhận của Công an.

5. Chứng minh thư nhân dân(Bản sao công chứng hoặc chứng thực).

6. Các tài liệu khác có liên quan như: giấy tờ về nhà đất, biên bản giải quyết của địa phương( Trong trường hợp vợ chồng có tranh chấp về tài sản).

Căn cứ để Tòa án cho li hôn khi thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Hiệu lực của văn bản phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.

Luật sư SBLAW

Khách hàng hỏi: tôi là người Malaysia, kết hôn với một phụ nữ Việt Nam. Tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân gồm có:

4 căn hộ chung cư, 2 biệt thự, 2 xe hơi :

Tất cả tài sản đều do Vợ tôi đứng tên

Tôi muốn hỏi là chúng tôi ly hôn, muốn tự chia tài sản trong đó chỉ định nhà chung cư và xe hơi thuộc về tôi còn vợ tôi nhận biệt thự.

Vậy thỏa thuận đó có hiệu lực pháp luật không và nếu 2 bên đã ký hơp đồng phân chia rồi, sau khi ly hôn, vợ tôi không thiện chí trong việc thực hiện thỏa thuận thì tôi phải làm gì?

Luật sư Đặng Thành Chung trả lời: Khi vợ và chồng đã có văn bản phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân nếu không nhằm tẩu tán tài sản thì thỏa thuận đó phù hợp với quy định pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Nếu sau này người vợ anh không hợp tác để anh thực hiện quyền sở hữu riêng của mình thì có quyền khởi kiện yêu cầu công nhận thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng.

Còn nếu người vợ không đồng ý chia tài sản thì có quyền khởi kiện ra Tòa.

Luật sư tư vấn nhượng quyền thương mại

Doanh nghiệp hỏi: Mình là Tuấn đang quản lý chuỗi thức ăn nhanh ABC’s. Bên mình đang có kế hoạch nhượng quyền thương mại nhưng còn đang phân vân chưa biết bắt đầu từ đâu? Vậy nhờ công ty Luật tư vấn bên mình cần làm những gì để đủ tư cách nhượng quyền thương mại.
Luật sư trả lời: Trước tiên xin cảm ơn bạn đã quan tâm tới Dịch vụ tư vấn luật của SBLAW:

Về vấn đề xin đăng ký nhượng quyền thương mại có một số bước chính như sau:

Bước 1: Thương nhân nước ngoài sở hữu nhãn hiệu và mô hình ăn nhanh ABC’s phải đăng ký với Bộ Công thương.

Bước 2: Thương nhân nước ngoài sau khi được cấp chứng nhận, sẽ thực hiện nhượng quyền cho các đơn vị tại Việt Nam (Đơn vị việt nam cũng phải là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tương tự).

Nếu trong Hợp đồng với đơn vị đầu tiên tại Việt Nam, thương nhân nước ngoài cho phép đơn vị tại Việt Nam nhượng quyền lại: Đơn vị tại Việt Nam chỉ được phép nhượng quyền lại cho các đơn vị khác sau khi đã Kinh doanh Nhượng quyền theo mô hình ABC’s này từ một năm trở lên.

Tư vấn xin Giấy phép thiết lập trang tin điện tử tổng hợp.

Sau quá trình xem xét và thẩm định hố sơ, Cục quản lý phát thanh truyền hình và thông tin điển tử thuộc Bộ Thông tin và truyền thông đã cấp Giấy phép thiết lập trang tin điện tử cho trang tin điện tử tổng hợp xinhxinh.com.vn. 

SBLAW đã hỗ trọ pháp lý cho công ty cổ phần truyền thông Domino tiến hành xin cấp Giấy phép thiết lập trang tin điện tử cho website này.

Với giấy phép này, công ty truyền thông Domino sẽ tiến hành hoạt động theo đúng quy định của pháp luật về trang thông tin điện tử tổng hợp và pháp luật về quản lý Internet tại Việt Nam.

SBLAW đã hỗ trợ rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thông tin và truyền thông tiến hành xin giấy phép.

Quy định về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định trong doanh nghiệp

Vịnh hạ long

Ngày 25/4/2013 Bộ tài chính đã ban hành Thông tư 45/2013/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.

Theo đó, vấn đề quản lý tài sản cố định phải dựa trên các tiêu chuẩn và dấu hiệu nhận biết sau:

Thứ nhất: Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó.

Thứ hai: Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên.

Thứ ba: Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.

Tài sản cố định được quản lý theo nguyên tắc sau:

– Mỗi TSCĐ phải được quản lý theo nguyên giá, số hao mòn luỹ kế và giá trị còn lại trên sổ sách kế toán:

– Giá trị còn lại trên sổ kế toán của TSCĐ = Nguyên giá của tài sản cố định – Số hao mòn luỹ kế của TSCĐ

Cũng theo Thông tư 45/2013/TT-BTC thì số lần thay đổi trích hao đối với tài sản cố định là không quá 01 lần.

Đối với các TSCĐ đang trích khấu hao theo Thông tư 203/2009/TT-BTC nay không đủ tiêu chuẩn về nguyên giá TSCĐ theo Thông tư này thì giá trị còn lại của các tài sản đó được phân bổ dần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong thời gian tối đa 3 năm, kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/06/2013 và áp dụng từ năm tài chính năm 2013. Thông tư này thay thế Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.

Các bạn có thể xem văn bản theo đường link này 45_2013_TT-BTC_183508

Được phép sử dụng Tiếng Việt không dấu trên hóa đơn

Ngày 15/5/2013 Bộ tài chính đã ban hành Thông tư 64/2013/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 51/2010/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Theo đó thông tư đề cập tới những nội dung quan trọng sau đây:

Thứ nhất: Được phép sử dụng tiếng Việt không dấu trên hóa đơn.

Thứ hai: Doanh nghiệp cung ứng phần mềm tự in hóa đơn phải có đăng ký ngành lập trình hoặc xuất bản phần mềm.

Thứ ba: Gạch chéo phần còn trống trên hóa đơn in từ máy tính: Không buộc phải cùng màu mực.

Thứ tư: Quy định rõ trách nhiệm khi mất hóa đơn trong quá trình giao nhận

Thứ năm: Thời hạn nộp báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn được quy định như sau:

– Báo cáo hóa đơn quý I: chậm nhất là ngày 30/4.

– Báo cáo hóa đơn quý II: chậm nhất là ngày 30/7.

– Báo cáo hóa đơn quý III: chậm nhất là ngày 30/10.

– Báo cáo hóa đơn quý IV: chậm nhất là ngày 30/1 năm sau.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Bãi bỏ Thông tư số153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010, Thông tư số 13/2011/TT-BTC ngày 08/2/2011 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010.

Các nội dung hướng dẫn về hóa đơn tại các văn bản trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Các văn bản hướng dẫn khác về hóa đơn không trái với Thông tư này vẫn còn hiệu lực thi hành.

Qúy khách có thể dowload văn bản theo đường link sau 64_2013_TT-BTC_190411

Doanh nghiệp không được thanh toán bằng tiền mặt trong các giao dịch góp vốn và mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp

Thanh toán băng tiền mặt

Ngày 31/12/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định 222/2013/NĐ-CP quy định thanh toán bằng tiền mặt  và quản lý nhà nước về thanh toán bằng tiền mặt trong một số giao dịch thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam.

Đối với giao dịch tài chính doanh nghiệp cần chú ý hai nội dung quan trọng sau:

Thứ nhất: Các doanh nghiệp không được thanh toán bằng tiền mặt trong các giao dịch góp vốn và mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp vào doanh nghiệp từ ngày 1/3/2014.

Thứ hai: Các doanh nghiệp không phải tổ chức tín dụng không được sử dụng tiền mặt khi vay và cho vay lẫn nhau từ ngày 1/3/2014.

Để các quy định được thực thi nghiêm minh, chính xác thì cần sự hợp tác chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước như Ngân hàng nhà nước, Bộ tài chính …

Cụ thể là, ngân hàng nhà nước sẽ  Hướng dẫn thực hiện Khoản 2 Điều 4, Điều 7 và Điều 9 của Nghị định này. Bộ tài chính Hướng dẫn thực hiện Khoản 1 Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Khoản 2 Điều 8 Nghị định này.

Đồng thời, trách nhiệm các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng được nhấn mạnh.

Nghị định 222/2013  có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2014.

Nghị định này thay thế Nghị định số 161/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định về thanh toán bằng tiền mặt.

Các bạn xem văn bản theo đường link này  222_2013_ND-CP_218047

Lo bị vi phạm bản quyền, FPT đăng ký bảo hộ chương trình MiniMBA

Bảo hộ quyền tác giả

Trong bài viết “Lo bị vi phạm bản quyền, FPT đăng ký bảo hộ chương trình MiniMBA” của tác giả Vân Anh trên Ictnews.vn có nêu ý kiến của luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW về tầm quan trọng của việc bảo hộ bản quyền hiện nay.

SBLAW cũng là đơn vị tư vấn pháp lý cho FPT tiến hành đăng ký bản quyền với Cục Bản quyền tác giả Việt Nam. Chúng tôi trân trọng giới thiệu nội dung bài viết trên Ictnews.vn.

ICTnews – Theo TS. Trần Phương Lan, Viện phó Viện quản trị Kinh doanh FSB thuộc Đại học FPT, với việc nhận được giấy chứng nhận quyền tác giả chương trình MiniMBA, FSB có thể yên tâm không lo bị các đơn vị khác “ăn cắp” sản phẩm trí tuệ của mình.

TS.Trần Phương Lan, Viện phó Viện Quản trị kinh doanh FSB, một trong hai tác giả của chương trình đào tạo MiniMBA tại hội thảo “Cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu”

Viện Quản trị Kinh doanh FSB thuộc Đại học FPT vừa nhận Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả cho “Chương trình đào tạo Mini MBA – Tinh hoa quản trị thực hành của CEO”. Đây là chương trình đào tạo CEO đầu tiên được bảo hộ bản quyền tại Việt Nam.

Theo Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả được Cục Bản quyền Tác giả thuộc Bộ VHTT&DL cấp ngày 26/6/2014, tác phẩm “Chương trình đào tạo MiniMBA – Tinh hoa quản trị thực hành của CEO” là tác phẩm viết của 2 tác giả gồm Tiến sĩ Trần Phương Lan (Viện Phó Viện quản trị Kinh doanh FSB, GĐ chương trình MiniMBA) và Thạc sĩ Nguyễn Hồng Hà (Trưởng phòng R&D kiêm Phó GĐ chương trình MiniMBA). Giấy chứng nhận này được cấp cho chủ sở hữu là Viện Quản trị Kinh doanh FSB, Đại học FPT.

Nội dung của tác phẩm vừa chính thức được bảo hộ bản quyền là bộ khung của chương trình đào tạo Mini MBA và nội dung cơ bản của 12 chuyên đề nằm trong chương trình đào tạo.

Có nội dung cơ bản gồm 12 chuyên đề vơi 3 “bootcamp”, chương trình đào tạo MiniMBA của FPT được gói gọn trong hơn 3 tháng đào tạo vào cuối tuần và buổi tối.

Tại Việt Nam, các chương trình đào tạo dành riêng cho Nhà điều hành (CEO) phổ biến là chương trình MiniMBA và CEO. Năm 2011, Viện Quản trị Kinh doanh FSB là đơn vị đầu tiên đưa khái niệm MiniMBA đến với doanh nhân Việt Nam bằng chương trình đào tạo ngắn gọn trong 3 tháng nhằm cung cấp cho Nhà điều hành hệ thống kiến thức cốt lõi phục vụ công tác quản trị tại doanh nghiệp. Với việc đăng ký bản quyền tác giả “Chương trình đào tạo MiniMBA – Tinh hoa quản trị thực hành của CEO”, FSB tiếp tục là đơn vị đầu tiên  được chứng nhận quyền sở hữu cho một tác phẩm thuộc loại này.

Lý giải về quyết định đăng ký bản quyền tác giả, Viện Phó Viện quản trị Kinh doanh FSB Trần Phương Lan cho biết, gần đây Viện đã phát hiện ra một đơn vị đào tạo khác “bê nguyên xi” tới 10/12 chuyên đề của MiniMBA vào chương trình đào tạo của họ. Vì thế, FSB đã thực hiện thủ tục đăng ký bản quyền cho tất cả các sản phẩm của mình, bao gồm chương trình MiniMBA và 5 chương trình đào tạo chức năng khác là: CCO, CFO, CHRO, SMM, MSM.  “Với việc nhận được giấy chứng nhận quyền tác giả và quyền sở hữu chương trình MiniMBA, chúng tôi đã có thể yên tâm không lo bị các đơn vị khác “ăn cắp” sản phẩm trí tuệ của mình”, bà Trần Phương Lan nói.

Theo Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch công ty SBLaw, giấy chứng nhận đăng ký bản quyền tác giả do Cục Bản quyền Tác giả cấp cho FSB đã thừa nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản trí tuệ của FSB. Các hành vi sao chép, sử dụng tác phẩm trái phép dù chỉ là một chuyên đề hoặc thậm chí là một phần rất nhỏ trong tác phẩm “Chương trình đào tạo MiniMBA – Tinh hoa quản trị thực hành của CEO” cũng có thể bị coi là hành vi xâm phạm bản quyền. Khi đó, FSB có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân khác phải chấm dứt hành vi xâm phạm quyền đối với tác phẩm này, thậm chí là yêu cầu họ xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Chương trình MiniMBA được nghiên cứu bắt đầu từ cuối năm 2009 nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo cán bộ lãnh đạo cho Tập đoàn FPT trong giai đoạn thực hiện chiến Toàn cầu hóa. Trước nhu cầu lớn về nguồn nhân lực quản lý có trình độ cao, Chủ tịch Hội đồng Quản trị FPT Trương Gia Bình đã đặt hàng Viện Quản trị Kinh doanh FSB xây dựng một chương trình đào tạo riêng cho cán bộ FPT. Với sự nỗ lực của lãnh đạo FPT và FSB, chương trình MiniMBA được ra đời với giáo trình dựa trên nền tảng giáo trình được cập nhật mới nhất của trường Kellogg và UC Berkeley, Top 10 trường đào tạo về Quản trị kinh doanh danh tiếng nhất của Mỹ.

Năm 2011, sau hơn 1 năm đào tạo trong nội bộ được học viên và lãnh đạo FPT đánh giá tốt, MiniMBA trở thành chương trình đào tạo chính thức cho Học viện lãnh đạo FPT. Tất cả lãnh đạo từ cấp 4 trở lên của FPT, sau khi được bổ nhiệm đều phải có chứng chỉ MiniMBA.

Nhận thấy tính hiệu quả của chương trình, Viện Quản trị Kinh doanh FSB giao cho 2 cán bộ là  Trần Phương Lan và Nguyễn Hồng Hà nghiên cứu phát triển thành chương trình MiniMBA chuẩn và triển khai đào tạo tại Việt Nam cho những cá nhân, doanh nghiệp có nhu cầu. Chương trình gồm 12 chuyên đề với 3 “bootcamp”, gói gọn trong hơn 3 tháng đào tạo vào cuối tuần hoặc buổi tối. Nội dung đào tạo của MiniMBA bao phủ tất cả các hoạt động mà một người lãnh đạo cần trang bị, phù hợp với bối cảnh kinh tế và đặc thù văn hóa Việt Nam. Đến nay, FSB đã tổ chức đào tạo được 58 khóa MiniMBA với hơn 2.000 học viên và được đánh giá là gói giải pháp tối ưu cho CEO doanh nghiệp.

Vân Anh
Theo ictnews.vn

Xử phạt vi phạm đối với hành vi buôn lậu thuốc lá

Phóng viên Phương Thảo, Kênh VOV, Đài Tiếng Nói Việt Nam có đặt câu hỏi về tình trạng buôn lậu thuốc lá dạng nhỏ lẻ hiện nay đã có quy định xử lý chưa và người tiêu dùng thuốc lá nhập lậu có bị áp dụng chế tài không?
Luật sư Nguyễn Thanh Hà từ công ty Luật SBLAW đã trả lời như sau:
1. Hiện tại, theo quy định tại Điều 25 Nghị định 185/2013/NĐ-CP về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi buôn lậu thuốc lá thì việc buôn bản nhỏ lẻ đầu bị xử phạt.
Nghị định áp dụng mức từ dưới 10 bao thuốc nếu bị phát hiện đêu bị xử phạt vi phạm hành chính.
Cụ thể như sau:
Điều 25. Hành vi vi phạm về kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu

1. Đối với hành vi kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, mức phạt tiền như sau:

a) Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng dưới 10 bao (1 bao = 20 điếu, đối với các dạng thuốc lá thành phẩm khác nhập lậu được quy đổi 20g = 1 bao);

b) Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 10 bao đến dưới 20 bao;

c) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 20 bao đến dưới 50 bao;

d) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 50 bao đến dưới 100 bao;

đ) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 100 bao đến dưới 200 bao;

e) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 200 bao đến dưới 400 bao;

g) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 400 bao đến dưới 600 bao;

h) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 600 bao đến dưới 800 bao;

i) Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 600 bao đến dưới 1.000 bao;

k) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 600 bao đến dưới 1.000 bao;

l) Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 1.000 bao đến dưới 1.200 bao;

m) Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 1.200 bao đến dưới 1.400 bao;

n) Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 1.400 bao đến dưới 1.500 bao;

o) Phạt tiền từ 90.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng trong trường hợp hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 1.500 bao trở lên mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Các mức phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng xử phạt hành chính đối với:

a) Chủ phương tiện vận tải hoặc người điều khiển phương tiện vận tải có hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu;

b) Chủ kho tàng, bến bãi, nhà ở có hành vi tàng trữ hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu;

c) Người có hành vi giao nhận hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

b) Tịch thu phương tiện vận tải được sử dụng để vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu trong trường hợp tang vật có số lượng từ 600 bao trở lên hoặc vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

c) Tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh thuốc lá từ 12 tháng đến 24 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm.

Về vấn đề người tiêu dùng thuốc lá nhập lậu, hiện tại Luật chưa quy định và chưa có chế tài xử phạt về hành vi này.