Lựa chọn luật áp dụng khi đã xảy ra tranh chấp

Câu hỏi: Luật Việt Nam và luật quốc tế về sản phẩm có sự khác nhau, vậy nếu có sự tranh chấp về sản phẩm, chúng ta nên tuân thủ theo bộ luật nào cho phù hợp? Tôi có thể liên hệ với các công ty Luật nào hiện nay ở VN để hỗ trợ những vấn đề liên quan đến luật quốc tế?

Trả lời:

Khi có tranh chấp về tiêu chuẩn sản phẩm, bạn cần phải xem xét hợp đồng thương mại giữa các bên. Nếu trong hợp đồng, hai bên thống nhất sử dụng bộ tiêu chuẩn sản phẩm nào thì sẽ áp dụng bộ tiêu chuẩn đó để làm căn cứ xác định chất lượng sản phẩm.

Trong trường hợp hai bên chưa thỏa thuận thì có thể thỏa thuận lại về tiêu chuẩn sản phẩm.

Nếu hai bên không thể thỏa thuận được và cần đến phương thức xét xử là Tòa án thì Tòa án sẽ áp dụng các nguyên tắc trong tư pháp quốc tế để xác định luật áp dụng.

Nếu hai bên chọn phương thức Trọng tài thương mại thì cả hai phải xây dựng một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực pháp luật. Các bên có thể thỏa thuận bộ tiêu chuẩn sản phẩm hoặc Trọng tài sẽ được quyền  lựa chọn.

Chia di sản khi không có di chúc

Tình huống:    Thưa Luật sư!

Luật sư cho tôi hỏi, gia đình tôi rất băn khoăn vì bố tôi vừa mất đôt ngột mà không để lại di chúc, chúng tôi không biết phải phân chia  di sản như thế nào?

Luật sư trả lời: Căn cứ vào khoản a, điểm 1, Điều 675 Bộ Luật Dân Sự 2014 quy định:

” 1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a, Không có di chúc”.

Như vậy, gia đình chị phải tiến hành chia di sản theo pháp luật ( thừa kế theo pháp luật), cần chuẩn bị hồ sơ như sau:

– Giấy tờ chứng minh tài sản của người để lại di sản thừa kế

– Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế

– Giấy tờ cá nhân của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất

– Bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi (sổ hộ khẩu, CMND), nếu đã chết thì phải có giấy chứng tử hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền xác nhận đã chết trước thời điểm người để lại di sản thừa kế chết.

– Con đẻ, con nuôi (sổ hộ khẩu, CMND, giấy khai sinh)

– Sơ yếu lý lịch của 1 người nói trên có xác nhận của chính quyền địa phương

– Thời gian niêm yết công khai là 30 ngày, nếu không có khiếu nại gì thì sẽ tiến hành phân chia di sản thừa kế theo di chúc hoặc phân chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

Xử lý đối với trường hợp đóng lại số khung, số máy

Thưa ông, theo được biết thì những năm vừa qua, Viện Khoa học hình sự – Bộ Công an đã giám định, phát hiện nhiều trường hợp xe ô tô nhập khẩu bị đóng lại số khung, số máy từ nước ngoài. Vậy những chiếc xe đó cùng cá nhân liên quan sẽ bị xử lý ra sao?

Trả lời:

Việc đóng lại số khung số máy đối với những xe được nhập khẩu phải tuân thủ các quy định tại khoản 1 Điều 22 Thông tư 15/2014/Tt-BCA đó là:

a) Xe không có số máy, số khung: Trong tờ khai nguồn gốc nhập khẩu xe của Hải quan ghi không có hoặc chưa tìm thấy số máy, số khung thì cho đóng số theo số của biển số xe.

Trường hợp tìm thấy số máy, số khung thì yêu cầu đến cơ quan Hải quan để xác nhận lại.

b) Xe có số máy, số khung ở Etekét, số ghi bằng sơn, số bị mờ, hoen gỉ thì được đóng lại theo số được cơ quan Hải quan xác nhận trong tờ khai nguồn gốc nhập khẩu của xe.

c) Xe được cơ quan Hải quan xác nhận chỉ có số VIN, không có số máy, số khung thì lấy số VIN thay thế cho số khung (chụp ảnh số VIN thay thế cho bản cà số khung) và đóng lại số máy theo số của biển số xe.

d) Xe nhập khẩu bị đóng lại số máy, số khung thì không giải quyết đăng ký (trừ trường hợp có văn bản giải quyết của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ).

Như vậy theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 22 Thông tư 15/2014/TT-BCA thì không giải quyết việc đăng ký.

Mặt khác theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 29/2010/TT-BCT ngày 19/7/2010 về việc nhập khẩu ô tô chưa qua sử dụng bị đục lại số khung, số máy có quy định:

Cấm nhập khẩu ô tô các loại và bộ linh kiện lắp ráp ô tô các loại chưa qua sử dụng bị đục sửa, đóng lại số khung, số máy trong mọi trường hợp và dưới mọi hình thức.

Nếu Cơ quan hải quan, Cơ quan đăng ký xe mà có hành vi vi phạm phám luật dẫn đến việc các xe đục lại số khung số máy đã thực hiện việc Đăng ký xe thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của ngành.

Theo quy định tại khoản 7 Điều 23 Thông tư 15/2014/TT-BCA thì có quy định:

Xe đã đăng ký, nay phát hiện giấy chứng nhận nguồn gốc nhập khẩu (giấy Hải quan) là giả mạo thì chuyển hồ sơ sang Cơ quan điều tra để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Nếu Cơ quan điều tra có văn bản kết luận không phải là xe bị trộm cắp, chiếm đoạt trái phép thì cơ quan đăng ký xe chuyển giao cho Cục Hải quan quản lý địa bàn tỉnh, thành phố đó để truy thu thuế, sau khi có chứng từ thu thuế thì giải quyết đăng ký.

Xử phạt khi chủ xe tự thay đổi số khung, số máy

nature-wallpaper

Xin luật sư cho biết đối với những chủ xe tự ý làm lại SK, SM mà không đăng ký với cơ quan chức năng thì có bị xử phạt không? Nếu bị phạt thì mức phạt cụ thể là bao nhiêu?

Trả lời:

Căn cứ theo điều 6 Thông tư 15/2014/TT-BCA, nghiêm cấm mọi hành vi đục xóa số máy, số khung để đăng ký xe.

Theo quy định tại khoản 7 Điều 22 Thông tư 15/2014/TT-BTC thì: Trong mọi trường hợp, việc đóng lại số máy, số khung đều phải do cơ quan đăng ký xe thực hiện. Nếu không phải do Cơ quan Đăng ký xe thực hiện thì Căn cứ tại khoản 3 và khoản 5 Điều 30 Nghị định 171/2013/NĐ-CP sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:

 

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Tự ý đục lại số khung, số máy;

5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô, từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Tự ý đục lại số khung, số máy;

Xử lý khi xe bị rỉ sét số khung, số máy

TOUR-NHA-TRANG-TEAMBUILDING-VINPEARL-LAND

Vậy trong trường hợp, lực lượng chức năng công bố kết luận giám định: SK,SM đã bị rỉ sét do oxy hóa, không thể khôi phục lại như ban đầu thì chủ xe cần có những bước xử lý tiếp theo như thế nào?

Luật sư trả lời:

Trường hợp, lực lượng chức năng công bố kết luận giám định: SK,SM đã bị rỉ sét do oxy hóa, không thể khôi phục lại như ban đầu thì chia làm hai trường hợp:

Nếu là xe nhập khẩu  thì:

a) Xe không có số máy, số khung: Trong tờ khai nguồn gốc nhập khẩu xe của Hải quan ghi không có hoặc chưa tìm thấy số máy, số khung thì cho đóng số theo số của biển số xe.

Trường hợp tìm thấy số máy, số khung thì yêu cầu đến cơ quan Hải quan để xác nhận lại.

b) Xe có số máy, số khung ở Etekét, số ghi bằng sơn, số bị mờ, hoen gỉ thì được đóng lại theo số được cơ quan Hải quan xác nhận trong tờ khai nguồn gốc nhập khẩu của xe.

c) Xe được cơ quan Hải quan xác nhận chỉ có số VIN, không có số máy, số khung thì lấy số VIN thay thế cho số khung (chụp ảnh số VIN thay thế cho bản cà số khung) và đóng lại số máy theo số của biển số xe.

d) Xe nhập khẩu bị đóng lại số máy, số khung thì không giải quyết đăng ký (trừ trường hợp có văn bản giải quyết của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ).

Đối với xe sản xuất trong nước:

a) Xe có số máy, số khung đóng châm kim (lade) hoặc số đóng bị mờ, không rõ số thì được đóng lại số theo số ghi trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng.

b) Xe có số máy, số khung bị đóng chồng số thì phải trưng cầu giám định. Nếu cơ quan giám định kết luận xe bị đục lại số máy hoặc số khung thì không tiếp nhận đăng ký; trường hợp giám định kết luận số máy, số khung là nguyên thủy thì được đóng lại theo số ghi trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng.

c) Xe có số khung hoặc số máy đóng trong nước bị lỗi kỹ thuật, sau đó nhà sản xuất đóng lại và có xác nhận thì giải quyết đăng ký.

Thủ tục đục lại số khung, số máy

Thưa luật sư, số khung số máy được ví như số chứng minh thư của 1 chiếc xe. Tuy nhiên do trải qua quá trình sử dụng lâu ngày, SK, SM có thể bị mòn mờ, rỉ sét không chà nổi lên bản giấy để dán vào tờ khai đăng ký. Vậy chủ xe muốn xin đục lại SK,SM thì cần phải làm những thủ tục gì và lệ phí phải đóng là bao nhiêu  thưa ông?

Luật sư trả lời:

Căn cứ theo khoản 2 Điều 22 Thông tư 15/2014,TT-BCA:

– Xe có số máy, số khung đóng châm kim (lade) hoặc bị mờ, không rõ số thì được đóng lại số theo số máy, số khung ghi trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng.

– Xe có số máy, số khung bị đóng chồng số thì phải trưng cầu giám định; nếu cơ quan giám định kết luận số máy, số khung là nguyên thủy thì được đóng lại theo số máy số khung ghi trong phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng.

c. Xe đã đăng ký nếu thay thế máy mới hoặc thay thân máy (Blok) chưa có số máy thì đóng số theo số biển số xe đăng ký.

d. Xe có quyết định tịch thu, quyết định xử lý vật chứng của cơ quan có thẩm quyền hoặc văn bản kết luận của Cơ quan điều tra bao gồm: xe có số máy, số khung bị đục, tẩy xóa hoặc không xác định được số khung, số máy nguyên thủy thì được đóng lại số theo số của biển số.

Xe có quyết định tịch thu, quyết định xử lý vật chứng có ghi số máy, số khung nhưng quá trình bảo quan xe lâu ngày dẫn đến số máy hoặc số khung bị ăn mòn hoặc hoean gỉ thì đóng lại theo số của biển số xe.

Lệ phí:

Theo quy định tại Nghị định 127/2013/NĐ-CP Quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy đăng ký và biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thì lệ phí Đóng lại số máy, số khung: 50.000VNĐ

Thuế nhập khẩu đối với xe của người nước ngoài

Dân hỏi: Như luật sư vừa cho biết những chiếc ô tô mang biển nước ngoài hoặc ngoại giao sẽ được miễn thuế nhập khẩu tại Việt Nam. Đây cũng là lý do nhiều người Việt Nam tìm mua những chiếc xe này để trốn thuế. Nếu phát hiện hành vi này thì luật pháp sẽ xử lý thế nào, thưa ông?

Luật sư trả lời:

Không phải những chiếc ô tô mang biển nước ngoài hoặc ngoại giao sẽ được miễn thuế nhập khẩu tại Việt Nam. Thực chất đây là quy định của quyền ưu đãi, miễn trừ của các cá nhân là Viên chức ngoại giao, nhân viên hành chính kỹ thuật của các Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế có trụ sở tại Việt Nam khi nhập khẩu xe để sử dụng ở Việt nam. Khi hết nhiệm kỳ Công tác thì có nghĩa vụ thực hiện thủ tục tái xuất khẩu hoặc tiêu hủy hoặc chuyển nhượng xe ô tô, xe gắn máy đã tạm nhập khẩu miễn thuế theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. Các cá nhân hay Tổ chức này chỉ được chuyển nhượng xe đó khi đã hết nhiệm kỳ, đã sử dụng ít nhất từ 12 tháng đến 24 tháng tùy từng đối tượng…..

Khi chuyển nhượng thì theo quy định tại các cá nhân này phải thực hiện việc đóng thuế nhập khẩu theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Quyết định 53/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc tạm nhập, tái xuất khẩu, tiêu hủy, chuyển nhượng đối với xe ô tô, xe hai bánh gắn máy của đối tượng được miễn quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt nam như sau:

a) Đối với xe ô tô từ 15 chỗ ngồi trở xuống (kể cả lái xe): Áp dụng theo mức thuế nhập khẩu xe ô tô đã qua sử dụng do Thủ tướng Chính phủ ban hành có hiệu lực tại thời điểm chuyển nhượng.

b) Đối với xe ô tô từ 16 chỗ ngồi trở lên (kể cả lái xe):

Căn cứ tính thuế nhập khẩu là trị giá tính thuế, thuế suất và tỷ giá tính thuế tại thời điểm chuyển nhượng xe, cụ thể:

Trị giá tính thuế được xác định trên cơ sở giá trị sử dụng còn lại tính theo thời gian sử dụng xe tại Việt Nam (tính từ thời điểm nhập khẩu theo tờ khai hải quan đến thời điểm chuyển nhượng xe) và trị giá khai báo tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan. Trường hợp tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, trị giá khai báo thấp hơn mức giá trong cơ sở dữ liệu giá cùng thời điểm, trị giá tính thuế được xác định trên cơ sở giá trị sử dụng còn lại theo thời gian sử dụng xe tại Việt Nam và mức giá trong cơ sở dữ liệu giá.

Thuế suất áp dụng theo mức thuế suất xe ô tô từ 16 chỗ ngồi trở lên đã qua sử dụng tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi có hiệu lực tại thời điểm chuyển nhượng.

c) Thời điểm chuyển nhượng xe đối với trường hợp quy định tại Điểm a và b Khoản 4 Điều này thực hiện như sau:

Đối với đối tượng nêu tại Khoản 1 Điều 2 Quyết định này là thời điểm thay đổi mục đích sử dụng xe được thể hiện trên các giấy tờ giao dịch giữa người mua xe và chủ xe.

Đối với đối tượng nêu tại Khoản 2 và 3 Điều 2 Quyết định này là thời điểm thay đổi mục đích sử dụng xe được thể hiện trên các giấy tờ giao dịch giữa người mua xe và chủ xe phù hợp với thời điểm chủ xe kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam.

Khi cá cá nhân mua các loại xe này thì phải có trách nhiệm kê khai, nộp các loại thuế, lệ phí theo quy định. Như vậy nếu người Việt nam mà mua các loại xe này khi người nước ngoài không thực hiện việc đóng thuế nhập khẩu khi chuyển nhượng thì không thực hiện được việc sang tên. Nếu muốn sang tên phải thực hiện việc đóng thuế nhập khẩu thay cho cá nhân nước ngoài đó và phải thực hiện các thủ tục pháp lý có xác nhận của các tổ chức ngoại giao đó nữa nên tưởng là rẻ nhưng lại hóa đắt.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 19 Thông tư 15/2014/TT-BCA thì trong trường hợp này xe sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký xe và Biển số xe.

Thủ tục mua xe của người nước ngoài

Dân hỏi: Hiện nay có rất nhiều người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Trong trường hợp họ muốn mua xe để sử dụng lâu dài thì cần phải lưu ý những thủ tục gì? Đặc biệt là thủ tục xin cấp biển số nước ngoài tại Việt Nam thưa ông? ( Luật sư cho biết thêm ngoài  thủ tục thì người NN khi mua xe tại Việt Nam cần phải đóng những loại thuế nào, miễn loại thuế nào?)

Luật sư trả lời:

Việc người nước ngoài muốn mua xe để sử dụng lâu dài ở Việt nam thì chia là 02 đối tượng. Đó là Người nước ngoài là người làm việc trong các Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự, trong các cơ quan của tổ chức quốc tế và người nước ngoài làm việc, sinh sống ở Việt nam mà không thuộc các Cơ quan, tổ chức ngoại giao quốc tế trên.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Thông tư 15/2014/TT-BCA thì người nước ngoài khi thực hiện việc Đăng ký xe phải có các giấy tờ sau:

a) Người nước ngoài làm việc trong các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế, xuất trình Chứng minh thư ngoại giao hoặc Chứng minh thư công vụ (còn giá trị sử dụng), nộp giấy giới thiệu của Cục Lễ tân Nhà nước hoặc Sở Ngoại vụ.

b) Người nước ngoài làm việc, sinh sống ở Việt Nam, xuất trình Hộ chiếu (còn giá trị sử dụng) hoặc giấy tờ khác có giá trị thay Hộ chiếu; Thẻ thường trú, Thẻ tạm trú từ một năm trở lên và giấy phép lao động theo quy định, nộp giấy giới thiệu của tổ chức, cơ quan Việt Nam có thẩm quyền.

Theo quy định tại khoản 7 Điều 31 Thông tư 15/2014/TT-BCA thì việc cấp biển số cho người nước ngoài được quy định như sau :

a) Biển số nền màu trắng, số màu đen, có sêri ký hiệu “NG” màu đỏ cấp cho xe của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và nhân viên nước ngoài mang chứng minh thư ngoại giao của cơ quan đó. Riêng biển số xe của Đại sứ và Tổng Lãnh sự có thứ tự đăng ký là số 01 và thêm gạch màu đỏ đè ngang lên giữa các chữ số chỉ quốc tịch và thứ tự đăng ký.

b) Biển số nền màu trắng, số màu đen, có sêri ký hiệu “QT” màu đỏ cấp cho xe của cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế và nhân viên nước ngoài mang chứng minh thư ngoại giao của tổ chức đó. Riêng biển số xe của người đứng đầu cơ quan đại diện các tổ chức của Liên hợp quốc, có thêm gạch màu đỏ đè ngang lên giữa các chữ số chỉ ký hiệu xe của tổ chức quốc tế đó và thứ tự đăng ký.

c) Biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen, có sêri ký hiệu “CV” cấp cho xe của các nhân viên hành chính kỹ thuật mang chứng minh thư công vụ của các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, tổ chức quốc tế.

d) Biển số nền màu trắng, chữ và số màu đen, có ký hiệu “NN” cấp cho xe của tổ chức, văn phòng đại diện, cá nhân nước ngoài (trừ các đối tượng quy định tại các điểm a, b, c nêu trên).

Việc nộp thuế trước bạ của người nước ngoài theo quy định tại Điều 7 của Nghị định 45/2011/NĐ-CP về mức thu lệ phí trước bạ trừ người nước ngoài hoạt động Công vụ theo quy định về ngoại giao hoặc theo cam kết quốc tế mà Việt nam tham gia như sau:

b) Viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự, nhân viên hành chính kỹ thuật của cơ quan Đại diện ngoại giao, cơ quan Lãnh sự, thành viên cơ quan Đại diện của tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc và thành viên của gia đình họ không phải là công dân Việt Nam hoặc không thường trú tại Việt Nam được Bộ Ngoại giao Việt Nam cấp chứng minh thư ngoại giao hoặc chứng minh thư công vụ;

c) Tổ chức, cá nhân nước ngoài không thuộc đối tượng quy định tại điểm a, b khoản này, nhưng được miễn hoặc không phải nộp lệ phí trước bạ theo các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. 

Lệ phí trước bạ khi mua xe thuộc quyền sở hữu nhà nước

Chủ phương tiện hỏi: Xin luật sư cho biết khi mua xe thuộc quyền sở hữu của nhà nước thí mức nộp lệ phí trước bạ có khác với những chiếc xe thông thường khác hay không? ( Nếu khác thì khác thế nào, xin luật sư đưa ra con số cụ thể?)

Luật sư trả lời:

Căn cứ theo điều 7 Nghị định 45/2011/NĐ-CP về mức thu lệ phí trước bạ không phân biệt xe thuộc quyền sở hữu của nhà nước hay xe sở hưu cá nhân, mức thu lệ phí quy định chung như sau:

Xe máy mức thu là 2%. Riêng:

a) Xe máy của tổ chức, cá nhân ở các thành phố trực thuộc Trung ương; thành phố thuộc tỉnh; thị xã nơi Ủy ban nhân dân tỉnh đóng trụ sở nộp lệ phí trước bạ lần đầu với mức là 5%;

b) Đối với xe máy nộp lệ phí trước bạ lần thứ 2 trở đi được áp dụng mức thu là 1%. Trường hợp chủ tài sản đã kê khai, nộp lệ phí trước bạ đối với xe máy thấp hơn 5%, sau đó chuyển giao cho tổ chức, cá nhân ở địa bàn quy định tại điểm a khoản này thì nộp lệ phí trước bạ theo mức là 5%.

5. Ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô mức thu là 2%.

Riêng: Ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe) nộp lệ phí trước bạ theo mức từ 10% đến 20%. Căn cứ quy định mức thu lệ phí trước bạ tại khoản này, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định cụ thể mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe) cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

6. Đối với vỏ, tổng thành khung, tổng thành máy của tài sản quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này mà phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì áp dụng mức thu lệ phí trước bạ tương ứng của từng loại tài sản.

Mức thu lệ phí trước bạ đối với tài sản quy định tại Điều này khống chế tối đa là 500 triệu đồng/1 tài sản, trừ: ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe), tàu bay, du thuyền.

Thủ tục sang tên đổi chủ khi mua xe ô tô biển xanh

Người dân hỏi: Thưa luật sư, một chủ xe có nhu cầu mua lại một chiếc xe thanh lý của nhà nước có biển mầu xanh. Chủ xe rất muốn giữ biển số này để dễ dang đi lại, lưu thông trên đường. Vậy chủ xe muốn làm thủ tục sang tên đổi chủ chiếc xe trên có được không? Nếu đăng ký được thì thủ tục gồm những gì? 

Luật sư trả lời:

– Vì chiếc xe được mua lại là chiếc xe thanh lý của nhà nước, nên chủ xe cần kiểm tra xem xe có thuộc trường hợp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe theo quy định tại Điều 19 Thông tư 15/2014/TT-BCA về đăng ký xe hay không.

Nếu không thuộc các trường hợp phải thu hồi giấy chứng nhận, chủ xe thực hiện thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật.

– Căn cứ khoản 6 Điều 31 Thông tư 15/2014/TT-BCA, biển số xe màu xanh là biển xe của cơ quan hành chính sự  nghiệp như Văn phòng chủ tịch nước, công an nhân dân, tòa án nhân dân…. Khi chủ xe mua lại xe có biển màu xanh thì chủ xe không được giữ lại biển số xe này, mà phải làm thủ tục cấp lại biển số xe nền màu trắng chữ và số màu đen được cấp cho cá nhân.

– Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe.

Hiện tượng lừa đảo nhân danh hoạt động từ thiện.

Chủ tịch SBLaw

Luật sư Nguyễn Thanh Hà đã có bài trả lời phỏng vấn báo Đời Sống và Pháp Luật, cơ quan của Hội Luật Gia Việt Nam về vấn đề sau:

Hiện nay, trên các trang mạng xã hội, rất nhiều người thành lập ra các câu lạc bộ từ thiện, nhóm, tổ chức các hoạt động, kêu gọi quyên góp tiền từ thiện rầm rộ trên mạng. Tuy nhiên, sau khi gom được số tiền lớn các đối tượng này “bùng luôn”.  Chính sự lừa đảo này, khiến không ít người bức xúc và dần mất niềm tin vào công tác thiện nguyện.

BTV: Ý kiến của Luật sư về vấn đề này?

Luật sư Nguyễn Thanh Hà trả lời:  Từ thiện vốn là một hoạt động tốt, nhân văn và mang đậm tính cộng đồng, là sự chia sẻ giữa con người với con người, là cách để “lá lành đùm lá rách” theo truyền thống của dân tộc ta. 

Do đó, theo tôi, hành vi quyên góp tiền dưới danh nghĩa câu lạc bộ từ thiện, tổ chức từ thiện, nhóm từ thiện, quỹ hoặc một cá nhân đứng ra nhận tiền từ thiện rồi “bùng tiền”, xét về mặt luật pháp, đó là một hành vi vi phạm pháp luật hình sự, còn xét về mặt đạo đức thì đó là một hành vi trái đạo đức nghiêm trọng. Hành vi này cần phải được xử lý nghiêm minh về mặt luật pháp để lập lại trật tự xã hội, và phải bị xã hội lên án để trả lại giá trị đích thực của hoạt động từ thiện là một hoạt động vì cộng đồng. 

BTV:   Với các đối tượng này, hình thức xử phạt được quy định thế nào? Trách nhiệm thuộc về ai?

Luật sư Nguyễn Thanh Hà trả lời:  Xét về mặt hành vi thì hành vi “bùng tiền” được quyên góp vì mục đích từ thiện thuộc dạng hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác đã được quy định trong bộ luật hình sự là một tội phạm – Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Mô tả của Bộ luật hình sự về loại tội phạm này như sau:

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Đây là hình phạt thấp nhất. Tùy thuộc vào các tình tiết tăng nặng mà chủ thể của hành vi này có thể bị hình phạt cao hơn.

 BTV: Theo anh, tại sao hiện tượng này diễn ra ngày càng nhiều? Biện pháp giải quyết để người dân không mất niềm tin vào các hoạt động từ thiện?

Luật sư Nguyễn Thanh Hà trả lời:

Hiện tượng này diễn ra càng phổ biến, theo tôi, trước tiên xuất phát từ hoàn cảnh xã hội khi thiên tai liên tiếp xảy ra, khi ngày càng nhiều bệnh tật, thậm chí bệnh lạ xuất hiện dẫn đến ngày càng nhiều người cần được cộng đồng chung tay giúp sức. Mức sống của người dân cũng tăng dần cùng sự phát triển của nền kinh tế của đất nước, cộng với dân trí ngày càng được cải thiện nên từ thiện vốn là một hoạt động nhân văn – phần lương thiện trong mỗi con người mà vốn ai cũng có, có cơ hội để được thể hiện nhiều hơn. Lợi dụng sự nhân văn và đánh mạnh vào tâm lý muốn cứu giúp người khác của một bộ phận người dân mà một số đối tượng đã nảy sinh ý đồ lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Nhu cầu làm từ thiện ngày càng tăng chính là cơ hội, là điều kiện để một bộ phận đối tượng xấu triển khai thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng việc lập ra các quỹ từ thiện, câu lạc bộ từ thiện, nhóm từ thiện, tổ chức từ thiện để quyên góp tiền và sau đó “bùng mất”.

Để hạn chế việc người dân bị mất tiền và mất luôn niềm tin vào việc làm từ thiện, theo tôi, 2 biện pháp sau đây cần được thực hiện đồng thời:

Về phía cơ quan quản lý nhà nước: Trong khuôn khổ của tình huống này, chúng ta chỉ đề cập đến việc lừa đảo trên các trang mạng xã hội, nên biện pháp mà tôi đề xuất chỉ liên quan đến các trang mạng xã hội. Tôi cho rằng các cơ quan chức năng quản lý các trang mạng xã hội cần phải có một bộ phận chức năng có công nghệ cao theo dõi chặt tất cả các trang mạng xã hội, đặc biệt lưu ý đến những tin, bài, những nội dung liên quan đến quyên góp từ thiện với số tiền lớn. Cơ quan này cần có sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an để kịp thời tiếp nhận và xử lý nhanh chóng, kịp thời mọi thông tin được nghi vấn là có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Về phía công an, cần nhanh chóng và kịp thời tiếp nhận và xử lý các thông tin tố giác tội phạm, đặc biệt có cơ chế bảo vệ người tố giác, người làm chứng. 

Từ phía người dân, nếu là tôi, tôi chỉ làm từ thiện trực tiếp. Tức là, tôi phải trao tận tay người cần được từ thiện. Vì tôi cho rằng tài sản làm từ thiện của tôi (tiền hoặc bất kỳ hình thức tài sản vật chất nào) mà không được sử dụng vào đúng mục đích từ thiện, đúng đối tượng cần được từ thiện, thậm chí bị sử dụng vào mục đích xấu, bất hợp pháp thì chẳng khác nào tôi gián tiếp tiếp tay cho hành vi vi phạm pháp luật và vi phạm đạo đức xã hội. Bên cạnh đó, người dân cần nâng cao cảnh giác và chỉ nên quyên góp cho những tổ chức, quỹ từ thiện uy tín, được nhà nước cấp phép. Theo quy định của pháp luật hiện nay, việc tồn tại dưới hình thức quỹ từ thiện phải được nhà nước cấp phép và phải hoạt động theo quy định của pháp luật. 

 

Tư vấn luật liên quan đến việc hỗ trợ soạn thảo Hợp đồng nhượng quyền thứ cấp

Quản lý dòng tiền

SBLAW với các luật sư kinh nghiệm về lính vực franchise, cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật liên quan đến việc hỗ trợ soạn thảo Hợp đồng nhượng quyền thứ cấp.

1.Phạm vi cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật như sau:

– Dự thảo hợp đồng tiếng Việt cho Quý Khách hàng trên cơ sở bảo đảm tốt nhất các quyền và lợi ích của Quý Khách hàng theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam;

– Trả lời, giải thích các câu hỏi hoặc ý kiến của Quý Khách hàng liên quan đến dự thảo hợp đồng;

– Rà soát, sửa đổi và hoàn thiện dự thảo hợp đồng dựa trên các ý kiến của Quý Khách hàng (không quá 3 lần trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày đệ trình bản dự thảo Hợp đồng lần 01 cho Quý Khách hàng) để có bản dự thảo hợp đồng hoàn chỉnh. Giờ làm việc phát sinh thêm sẽ được tính theo phí luật sư theo giờ;

2. Kế hoạch triển khai công việc như sau:

Bước 1: Chúng tôi sẽ thu thâp thông tin và tài liệu cần thiết từ Quý Khách hàng. Sau khi nhận được thông tin cần thiết từ Quý Khách hàng, chúng tôi sẽ nghiên cứu, đánh giá về các vấn đề pháp cần lưu tâm trong quá trình thực hiện Giao dịch mục tiêu. Để phục vụ cho việc hiểu rõ thêm mục tiêu cũng như địa vi pháp lý hiện thời của Quý Khách hàng, chúng tôi có thể đề xuất gặp gỡ trực tiếp để thảo luận chi tiết giữa Luật sư của chúng tôi và Quản lý dự án của Quý khách hàng.

Bước 2: Rà soát Dự thảo hợp đồng: Trên cơ sở hiểu rõ mục tiêu và địa vị pháp lý của Quý Khách hàng, chúng tôi sẽ soạn thảo Hợp đồng trên cơ sở khuôn khổ quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam. Chúng tôi dự liệu thời gian soạn thảo Hợp đồng là 05 ngày làm việc kể từ ngày bắt đầu dịch vụ. Thời gian này không bao gồm thời gian để thực hiện hiệu chỉnh Hợp đồng theo yêu cầu của Quý Khách hàng.