Dịch vụ pháp lý bảo hộ nhãn hiệu

SBLAW với các luật sư và chuyên viên tư vấn giỏi chuyên môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ, sẵn sàng cung cấp dịch vụ pháp lý tư vấn về sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu tại Việt Nam và quốc tế.

Các dịch vụ tư vấn pháp lý về nhãn hiệu của chúng tôi bao gồm:

  • Tiến hành thiết kế mẫu nhãn hiệu, phân loại sản phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu theo Công ước quốc tế
  • Tiến hành thủ tục tra cứu nhãn hiệu, đánh giá khả năng đăng ký và sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam và quốc tế
  • Tư vấn và chuẩn bị nộp và theo đuổi đơn đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam và quốc tế, theo Nghị định thư Madried.
  • Tiến hành khảo sát tính hiệu lực của nhãn hiệu và gia hạn đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam và quốc tế
  • Theo dõi và phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu tại Cục SHTT
  • Khiếu nại các quyết định của Cục Sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ quyền của người nộp đơn
  • Quản lý danh mục nhãn hiệu của doanh nghiệp bao gồm định giá thương hiệu
  • Cử luật sư tham gia đàm phán và soạn thảo hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng nhãn hiệu, nhượng quyền kinh doanh (franchising) tại Việt Nam và quốc tế
  • Tư vấn, soạn thảo và đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng nhãn hiệu (li-xăng)
  • Tư vấn vi phạm, các biện pháp thực thi quyền độc quyền nhãn hiệu tại Việt Nam và quốc tế
  • Đại diện cho nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ kiện vi phạm tại Tòa án và Trọng tài

Tư vấn sở hữu trí tuệ về sáng chế

SBLAW với các luật sư sáng chế giỏi chuyên môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ, sẵn sàng cung cấp dịch vụ pháp lý tư vấn về sở hữu trí tuệ về sáng chế.

Các dịch vụ tư vấn pháp lý về sáng chế bao gồm:

  • Tiến hành tra cứu sáng chế tại Việt Nam và quốc tế (bao gồm việc tra cứu thông tin thư mục, tra cứu tình trạng kỹ thuật và tra cứu vi phạm bảo hộ)
  • Tư vấn về khả năng bảo hộ sáng chế tại Việt Nam, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Quốc tế theo Hiệp định PCT.
  • Tư vấn, soạn thảo, chuẩn bị, nộp và theo đuổi đơn sáng chế tại Cục sở hữu trí tuệ (NOIP) và các cơ quan sáng chế khác trên thế giới.
  • Tư vấn và tiến hành phản đối đơn sáng chế và khiếu nại các quyết định của Cục Sở hữu trí tuệ và các cơ quan sáng chế khác.
  • Tư vấn và tiến hành duy trì và khảo sát tính hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích tại Việt Nam và quốc tế.
  • Tiến hành thủ tục pháp lý nhằm đình chỉ và hủy bỏ hiệu lực văn bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích tại Việt Nam và quốc tế
  • Tư vấn và tiến hành quản lý sáng chế bao gồm việc định giá sáng chế tại Việt Nam và quốc tế
  • Cử luật sư tham gia đàm phán và soạn thảo hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng sáng chế, và các hợp đồng liên quan đến sáng chế giữa các đối tác.
  • Đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng sáng chế và hợp đồng chuyển giao công nghệ tại Việt Nam và quốc tế.
  • Tư vấn thực thi quyền độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích tại Việt Nam và quốc tế
  • Đại diện và cử đại diện cho nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ kiện vi phạm quyền sáng chế

Luật sư SBLAW nêu quan điểm về quyền tác giả trên báo Petrotimes.

Trong bài viết Nhiếp ảnh gia Na Sơn không hiểu luật? của tác giả Ngọc Dung trên báo Năng lượng điện tử Petrotimes có ý kiến của luật sư Nguyễn Thanh Hà từ công ty Luật SBLAW về vấn đề bản quyền.

Chúng tôi trân trọng đăng lại bài viết này:

PetroTimes) – Qua vụ việc nhiếp ảnh gia Na Sơn tố cáo thư viện Hà Nội “ăn cắp tác phẩm” của mình và khẳng định mình là chủ sở hữu tác phẩm, có vẻ như, khái niệm “quyền sở hữu tác phẩm” và “quyền tác giả” đang bị Na Sơn hiểu chưa đúng?

Có lẽ, các định nghĩa về “quyền tác giả”, “quyền sở hữu tác phẩm” đang bị bỏ qua một cách quá dễ dàng. Ai cũng có thể sử dụng tác phẩm của nhau mà không cần có sự xin phép. Trong nhiều trường hợp, khó để có thể nhận định: “Ai mới là người sở hữu thực sự của tác phẩm này”.

Như trong vụ việc giữa nhiếp ảnh gia Na Sơn với thư viện Hà Nội, Na Sơn đã có những lời lẽ rất gay gắt về việc thư viện Hà Nội đã lấy ảnh “của mình” mà không xin phép. Bên cạnh đó, Na Sơn cũng yêu cầu thư viện Hà Nội phải có văn bản xin lỗi.

Tuy nhiên, nhân vật trong bức ảnh đã lên tiếng khẳng định: Ý tưởng, trang phục, phụ kiện… đều là do nhân vật chuẩn bị. Nhiếp ảnh gia Na Sơn chỉ việc đến chụp và nhận tiền hợp đồng là 21 triệu đồng.

Trao đổi với phóng viên PetroTimes, Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Giám đốc Công ty Luật SB Law cho biết theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về quyền tác giả đối với trường hợp này cho thấy: “Nhiếp ảnh gia Na Sơn đang nhầm lẫn giữa hai khái niệm: Quyền tác giả và quyền sở hữu tác phẩm. Vợ chồng chị Trịnh Thu Hường trả tiền cho nhiếp ảnh gia Na Sơn thực hiện bộ ảnh cưới thì giữa hai bên đã hình thành quan hệ hợp đồng dân sự.

Theo điều 19, điều 20 trong Luật sở hữu trí tuệ, thì nhiếp ảnh gia Na Sơn có quyền nhân thân và quyền tác giả. Còn vợ chồng chị Hường sẽ có quyền sở hữu tác phẩm. Tuy nhiên, nếu đôi bên có sự thỏa thuận riêng thì Na Sơn sẽ được là người sở hữu tác phẩm đó”.

Nhưng qua cuộc trò chuyện với phóng viên, chị Hường khẳng định, giữa vợ chồng chị và Na Sơn không hề có một thỏa thuận nào. Vậy, vợ chồng chị mới chính thức là người có quyền sở hữu tác phẩm trên. Vợ chồng chị Hường được phép cho người khác sử dụng, còn Na Sơn là người được quyền đứng tên tác phẩm hay còn gọi là quyền tác giả.

Đáng lẽ ra, sự việc cũng sẽ không bị đẩy lên cao trào như vậy nếu như nhiếp ảnh gia Na Sơn không làm rùm beng mọi chuyện và yêu cầu Sở Văn Hóa phải có văn bản xin lỗi công khai bản thân khi đã trót “ăn cắp tác phẩm của mình” trong khi Na Sơn không thực sự là người sở hữu tác phẩm này.

Theo Luật sở hữu Trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):

Điều 19. Quyền nhân thânQuyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

1. Đặt tên chotác phẩm;

2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố,sử dụng;

3. Công bốtác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm,không cho người khác sửa chữa,cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Điều 20. Quyền tài sản

1. Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:

a) Làm tác phẩm phái sinh;

b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

c) Sao chép tác phẩm;

d) Phân phối,nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến,vô tuyến,mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;

e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh,chương trình máy tính.

2. Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả,chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của Luật này.

3. Tổ chức,cá nhân khi khai thác,sử dụng một,một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút,thù lao,các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Link bài báo:

Bài báo trên Petrotimes

Luật sư Nguyễn Thanh Hà tham gia hỗ trợ pháp lý chương trình Sáng tạo Việt.

Mời quý vị đón xem chương trình Sáng tạo việt với chủ đề Giải pháp công nghệ mới hỗ trợ chăm sóc hoa, cây cảnh trang trí khuôn viên đường phố và các công trình công cộng bảo vệ môi trường.

Chương trình được Phát sóng trên VTV3 Đài Truyền hình Việt Nam vào 9h25 sáng chủ nhật ngày 26/10/2014 và phát lại vào 8h25 thứ 2 ngày 27/10/2014.

Trong chương trình có sự tham gia của Luật sư Nguyễn Thanh Hà từ công ty luật SBLAW.

Quy định về hoạt động ủy thác đầu tư

Trong bài trả lời phỏng vấn kênh truyền hình Nhân Dân, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch công ty luật SBLAW đã có phần trao đổi với phóng viên Mai Hoa về vấn đề ủy thác đầu tư liên quan tới vụ việc của sàn vàng K.T.

Chúng tôi trân trọng giới thiệu nội dung bài phỏng vấn:

Phóng viên: Với tư cách Luật sư, nhà tư vấn luật ông đánh giá mức độ vi pham pháp luật của Công ty Khải Thái?

Trả lời: Trên thông tin báo chí gần đây có phản ánh việc Công ty Khải Thái thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt số lượng lớn tài sản của người dân dưới thủ đoạn keey gọi ủy thác để Khải Thái đầu tư, kinh doanh vàng. Theo thông tin được cung cấp trên phương tiện thông tin đại chúng thì Khải Thái đã thực hiện việc chiếm đoạt số tiền đến thời điểm hiện tại lên đến 200 tỷ đồng. Đây là vụ việc không chỉ nhằm chiếm đoạt được số tiền là rất lớn hơn 200 tỷ đồng mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, đối tượng phạm tội và chủ miu là người nước ngoài, số tiền chiến đoạt được đã được chuyển ra nước ngoài một cách bất hợp pháp khó có khả năng thu hồi lại được.

PV: Theo quy định của pháp luật Việt Nam có quy định việc nhận uỷ thác đầu tư không? công ty, tổ chức nào được quyền nhận uỷ thác vốn đầu tư? 

Trả lời: Theo quy định của Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng có quy định về tiếp nhận vốn ủy thác của pháp nhân phải là pháp nhân có chức năng hoạt động tín dụng- ngân hàng như các Ngân hàng, Công ty tài chính. Thẩm quyền nhận ủy thác tài chính theo quy định Luật các tổ chức tín dụng như sau:

1. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010:

– Điều 106: Nghiệp vụ ủy thác và đại lý:

NHTM được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

– Điều 111: Các hoạt động kinh doanh khác của công ty tài chính:

“1. Tiếp nhận vốn ủy thác của Chính phủ, tổ chức, cá nhân để thực hiện các hoạt động đầu tư vào các dự án sản xuất, kinh doanh, cấp tín dụng được phép; ủy thác vốn cho tổ chức tín dụng thực hiện cấp tín dụng. Việc tiếp nhận vốn ủy thác của cá nhân và ủy thác vốn cho các tổ chức tín dụng cấp tín dụng thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.”

– Điều 116: Các hoạt động kinh doanh khác của công ty cho thuê tài chính:

“1. Tiếp nhận vốn ủy thác của Chính phủ, tổ chức, cá nhân để thực hiện hoạt động cho thuê tài chính. Việc tiếp nhận vốn ủy thác của cá nhân thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

4. … uỷ thác cho thuê tài chính theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”.

– Điều 118: Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân:

“4. Các hoạt động khác, bao gồm:

a) Tiếp nhận vốn ủy thác cho vay của Chính phủ, tổ chức, cá nhân;”

– Điều 122. Hoạt động khác của tổ chức tín dụng vi mô:

“1. Ủy thác, nhận ủy thác cho vay vốn.”

– Điều 123: Nội dung hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài:

“1. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện các hoạt động theo quy định tại mục 2 Chương IV của Luật này (được quyền ủy thác, nhận ủy thác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước).”

– Tại điểm 46 Chuẩn mực số 22 Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam quy định:“Ngân hàng thường đóng vai trò là người nhận uỷ thác cho vay dẫn đến việc nắm giữ hoặc đại diện cho tài sản của các cá nhân, người uỷ thác và các Ngân hàng khác. Cung cấp các thông tin về uỷ thác cũng như mối quan hệ tương tự là một chứng minh hợp pháp rằng những tài sản này không phải là tài sản của Ngân hàng và do vậy không nằm trong bảng cân đối kế toán. Nếu Ngân hàng có các hoạt động nhận uỷ thác quan trọng thì phải trình bày và phải chỉ ra quy mô của hoạt động đó trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính. Những khoản nợ tiềm tàng nếu xảy ra tổn thất sẽ liên quan tới trách nhiệm người nhận uỷ thác nó. Với mục đích này, hoạt động nhận uỷ thác không bao gồm các chức năng bảo đảm an toàn.”.

Như vậy chỉ những Công ty, Tổ chức có chức năng thực hiện hoạt động tín dụng mới được nhận ủy thác tiền để đầu tư theo quy định của pháp luật.

PV: Trong vụ Khải Thái, nhà đầu tư liệu có thể thu hồi lại vốn? họ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Trả lời:

Trong vụ Công ty Khải Thái thì theo các thông tin đã được cung cấp trên phương tiện thông tin đại chúng thì khả năng các nhà Đầu tư thu hồi lại vốn đã ủy thác lag không khả thi. Theo thông tin hiện nay thì số tiền mà Nhà đầu tư ủy thác cho Công ty Khải Thái đã được Khải Thái chuyển hết ra nước ngoài.

Còn đối với các nhà đầu tư nếu Cơ quan điều tra xác định được việc họ có biết các hoạt động đầu tư vàng trái pháp luật (nếu đúng như Khải Thái nêu) thì có dấu hiệu đồng phạm với Khải Thái phạm tội kinh doanh trái phép. Nhưng theo các thông tin hiện nay thì các đối tượng của Khải Thái đã bị khởi tố về hành vi lừa đảo nhằm chiến đoạt tài sản. hành vi lừa đảo của Khải Thái đối với nhà đầu tư ở đây là để kinh doanh vành nhưng thực chất Khải Thái không có chức nawg kinh doanh vàng và thực tế cũng không thực hiện kinh doanh mà chuyển tiền ra nước ngoài. Vì vậy các nhà đầu tư chỉ là những bị hại nên sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

PV:  Tài sản của công ty Khải Thái sẽ được xử lý như thế nào?

Trả lời:

Những tài sản còn lại của Khải Thái thực chất là của những nhà đầu tư. Nếu các đối tượng chop bu của Khải thái bị xử lý hình sự về tội lừa đảo như Cơ quan điều tra đã khởi tố thì những tài sản này sẽ được trả lại cho các nhà đầu tư theo tỉ lệ đã thực cho vay so với số tiền còn lại của Khải Thái. Vì vậy để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình thì các nhà Đầu tư phải đến trình báo cho Cơ quan điều tra và cung cấp các tài liệu chứng cứ về số tiền đã ủy thác.

Tư vấn hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan

Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan phải được lập thành văn bản gồm những điều khoản cơ bản sau:

  • Tên và địa chỉ đầy đủ của các bên (gồm bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng);
  • Đối tượng chuyển nhượng
  • Căn cứ chuyển nhượng (căn cứ pháp lý và thực tế);
  • Giá, phương thức thanh toán;
  • Quyền và nghĩa vụ của các bên;
  • Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
  • Bồi thường thiệt hại
  • Điều khoản khác do các bên thỏa thuận

Việc thực hiện, sửa đổi, chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự.

SBLAW là đơn vị pháp lý, sẵn sàng cung cấp dịch vụ tư vấn hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan cho khách hàng.

Tư vấn soạn thảo và đàm phán Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan

SBLAW cung cấp dịch vụ pháp lý tư vấn soạn thảo và đàm phán Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan cho khách hàng.

Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan là một loại hợp đồng dân sự và phải được lập thành văn bản. Nội dung của hợp đồng gồm những điều khoản cơ bản sau:

  • Tên và địa chỉ đầy đủ của các bên (bên chuyển quyền và bên nhận chuyển quyền);
  • Căn cứ chuyển quyền (căn cứ theo pháp luật và căn cứ thực tế);
  • Phạm vi chuyển giao quyền (phạm vi lãnh thổ và đối tượng);
  • Giá, phương thức thanh toán;
  • Quyền và nghĩa vụ của các bên;
  • Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
  • Điều khoản khác do các bên thỏa thuận

Việc thực hiện, sửa đổi, chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật sở hữu trí tuệ.

Nhãn hiệu có thể được đăng ký như là Kiểu dáng công nghiệp không?

Câu hỏi: Doanh nghiệp chúng tôi có nhãn hiệu, muốn bảo hộ nhãn hiệu dưới dạng kiểu dáng công nghiệp tại Cục sở hữu trí tuệ, điều này có được hay không?

Luật sư trả lời: Nhãn hiệu nếu được thiết kế và trình bày một cách độc đáo với những họa tiết, hoa văn mang tính thẩm mỹ có thể được bảo hộ như là kiểu dáng công nghiệp.

Doanh  nghiệp nên tham khảo về nội dung bảo hộ kiểu dáng công nghiệp với các tiêu chí bảo hộ là tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp.

Doanh nghiệp có thể liên hệ với các luật sư để được tư vấn cụ thể.

Chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu

SBLAW cung cấp dịch vụ pháp lý về chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiêu tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam (NOIP):

Chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu là việc nhãn hiệu được các bên mua bán theo một thỏa thuận nhất định.

Chủ sở hữu Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có thể tiến hành chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu gồm quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng.

Sau khi chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ chấm dứt mọi quyền lợi đối với nhãn hiệu.

Môt số vấn đề pháp lý mà chủ sở hữu cần quan tâm:

– Nhãn hiệu đã đăng ký nếu trùng với tên doanh nghiệp của chủ đơn thì không được chuyển quyền sở hữu hoặc phải tiến hành thêm các bước bổ sung như chuyển cả cơ sở kinh doanh hoặc các biện pháp pháp lý khác.

– Quyền sở hữu nhãn hiệu chỉ được chuyển nhượng nếu không gây sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đó.

– Quyền đối với nhãn hiệu chỉ được chuyển giao cho tổ chức cá nhân đáp ứng điều kiện đối với người có quyền đăng ký nhãn hiệu đó (Điều 138, Điều 139 Luật SHTT Việt Nam).

Hồ sơ pháp lý để tiến hành:

– Tờ khai (Theo hướng dẫn)

– Hợp đồng chuyển quyền sở hữu nhãn hiệu (SBLAW có thể hỗ trợ đàm phán và soạn thảo)

– Giấy ủy quyền (Theo mẫu của SBLAW)

– Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (bản gốc)

Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (li-xăng nhãn hiệu):

Theo quy định của luật sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể tiến hành chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu ( li-xăng nhãn hiệu) cho bên thứ 3.

SBLAW cung cấp dịch vụ pháp lý Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (li-xăng nhãn hiệu):

1.Lưu ý về li-xăng nhãn hiệu tại Việt Nam:

– Sau khi li-xăng nhãn hiệu, chủ sở hữu nhãn hiệu vẫn còn quyền sở hữu đối với nhãn hiệu, chỉ có phép bên thứ 3 quyền sử dụng

– Chủ sở hữu nhãn hiệu (bên giao li-xăng) vẫn được tiếp quyền sử dụng hoặc được chuyển quyền sử dụng cho bên thứ 3 (trừ trường hợp li-xăng độc quyền)

– Quyền của bên được li-xăng: được sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu (bên giao li-xăng) để gắn lên sản phẩm, dịch vụ hoặc là sử dụng trong quá trình kinh doanh, trong một khoảng thời gian nhất định và trên một vùng lãnh thổ nhất định.

– Phí li-xăng nhãn hiệu: bên được li-xăng phải trả một khoản phí cho chủ sở hữu nhãn hiệu (bên giao li-xăng) theo thỏa thuận giữa các bên và tuân theo quy định của pháp luật hiện hành về sở hữu trí tuệ và thuế.

– Hiệu lực của hợp đồng li-xăng nhãn hiệu: hiệu lực theo thoả thuận giữa các bên nhưng chỉ có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại Cục sở hữu trí tuệ và sẽ mặc nhiên bị chấm dứt hiệu lực nếu quyền sở hữu đối với nhãn hiệu của bên giao bị chấm dứt.

2. Hồ sơ tiến hành dịch vụ li-xăng nhãn hiệu:

– Tờ khai (theo hướng dẫn)

– Hợp đồng chuyển quyền sử dụng (SBLAW có thể tham gia đàm phán và soạn thảo)

– Giấy ủy quyền (theo mẫu SBLAW)

– Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (bản gốc)

Tư vấn chuyển giao đơn đăng ký nhãn hiệu

SBLAW tư vấn về thủ tục chuyển giao đơn đăng ký nhãn hiệu tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam (NOIP) như sau:

SBLAW tư vấn chuyển giao đơn đăng ký cho doanh nghiệp một cách nhanh chóng, tận tình với chi phí hết sức cạnh tranh và hợp lý.

Khách hàng cần quan tâm tới vấn đề pháp lý sau:

– Sau khi hoàn tất việc chuyển giao đơn đăng ký nhãn hiệu, Bên chuyển quyền chấm dứt mọi quyền đối với nhãn hiệu đã chuyển giao.

– Quyền đối với nhãn hiệu đang được nộp đơn đăng ký không phụ thuộc vào đơn đang ở giai đoạn nào, giai đoạn thẩm định hình thức hay nội dung, cấp văn bằng.

– Thời gian thực hiện chuyển quyền từ 2 đên 3 tháng.

Hồ sơ pháp lý bao gồm:

– Tờ khai (Theo hướng dẫn)

– Hợp đồng chuyển giao đơn đăng ký nhãn hiệu (SBLAW có thể hỗ trợ đàm phán và soạn thảo)

– Giấy ủy quyền (theo mẫu SBLAW)

Gia hạn Bằng độc quyền Kiểu dáng công nghiệp

Thủ tục trở thành đại diện pháp nhân của công ty
Thủ tục trở thành đại diện pháp nhân của công ty

SBLAW là một công ty sở hữu trí tuệ, có nhiều kinh nghiệm, sẵn sàng cung cấp dịch vụ gia hạn bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam (NOIP).

Bằng độc quyền Kiểu dáng công nghiệp (KDCN) là công cụ hữu ích giúp bảo vệ kiểu dáng sản phẩm của doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả khía cạnh thương mại của KD.

Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ, thời hạn bảo hộ KDCN có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết 5 năm kể từ ngày nộp đơn, và có thể được gia hạn liên tiếp nhiều nhất là 2 lần, mỗi lần là 5 năm.

Việc gia hạn hiệu lực Bằng độc quyền Kiểu dáng công nghiệp là hết sức cần thiết để doanh nghiệp có thể yên tâm hoạt động sản xuất kinh doanh mà không lo lắng việc bị xâm phạm quyền.

Bên cạnh đó, việc gia hạn giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí và thời gian rất nhiều so với việc phải đăng ký lại Kiểu dáng công nghiệp do sơ suất, dẫn tới kiểu dáng đó hết hiệu lực.

Để tài sản sở hữu trí tuệ này tiếp tục được nhà nước tiếp tục bảo hộ với thời hạn 5 năm tiếp theo, SBLAW sẵn sàng cung cấp dịch vụ gia hạn hiệu lực Bằng độc quyền Kiểu dáng công nghiệp cho doanh nghiệp.

Quý khách cần cung cấp cho chúng tôi các tài liệu sau:

1- Giấy ủy quyền (theo mẫu của SBLAW)
2- Bản gốc của Bằng độc quyền KDCN
3- Lệ phí gia hạn: