Xử phạt vi phạm hành chính khi không sang tên đổi chủ

TOUR-NHA-TRANG-TEAMBUILDING-VINPEARL-LAND

Trong chuyên mục Xe và Giao Thông trên Kênh VOVTV Đài tiếng nói Việt Nam, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật SBLAW có tư vấn về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính khi không sang tên đổi chủ.

BTV: Trong trường hợp chủ sở hữu xe không tiến hành sang tên đổi chủ xe cũ đã qua sử dụng thì sẽ bị xử phạt như thế nào thưa luật sư?

Luật sư trả lời: Hiện tại, chưa áp dụng quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với việc không sang tên đổi chủ đối với tô tô.

Việc xử phạt sẽ được áp dụng từ 1/1/2015, căn cứ theo Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt:

Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng đối với cá nhân là chủ xe  ô tô.

Từ 2 triệu đồng đến 4 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô.

Không làm thủ tục đăng ký sang tên xe ( để chuyển tên chủ xe trong giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe moto, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe moto.

 

Thủ tục sang tên đổi chủ khi mua xe thanh lý

TOUR-NHA-TRANG-TEAMBUILDING-VINPEARL-LAND

Trong chuyên mục Xe và Giao Thông trên Kênh VOVTV Đài tiếng nói Việt Nam, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật SBLAW có tư vấn về vấn đề thủ tục sang tên đổi chủ khi mua xe thanh lý.

BTV: Thưa luật sư, trong trường hợp người mua xe mua lại một chiếc xe thuộc sở hữu của tập thể, ví dụ như xe nhà nước thanh lí, và muốn thay tên đổi chủ thành xe sở hữu chính chủ thì cần thực hiện những thủ tục gì sau khi mua xe?

Luật sư trả lời: Những thủ tục cần thiết sau khi mua xe thuộc sở hữu tập thể:

– Công chứng hợp đồng mua bán xe;

– Rút hồ sơ gốc của xe: bước này được thực hiện trong trường hợp bên mua và bên bán ở 2 tỉnh khác nhau;

– Đóng thuế trước bạ lần tiếp theo cho xe;

– Làm thủ tục đăng ký sang tên xe.

Khi làm thủ tục đăng ký sang tên xe khi mua xe thuộc sở hữu tập thể (công ty) thì cần lưu ý:

Nếu giá trị tài sản chiếc xe bán quá 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, thì cần có quyết định của chủ sở hữu công ty/ đại hội đồng cổ đông/ hội đồng thành viên về việc mua bán.

Nếu giá trị tài sản chiếc xe bán dưới 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, thì cần kiểm tra thẩm quyền của người được ủy quyền đại diện ký quyết định mua bán này.

Có phải đăng kiểm lại khi mua xe cũ không?

Những bức ảnh thiên nhiên đẹp

Trong chuyên mục Xe và Giao Thông trên Kênh VOVTV Đài tiếng nói Việt Nam, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật SBLAW có tư vấn về vấn đề có phải đăng kiểm lại khi mua xe cũ không?.

BTV: Một vấn đề nữa cũng được nhiều người quan tâm là đối với trường hợp mua xe cũ đã qua sử dụng từ chủ sở hữu khác, nếu phương tiện đó vẫn còn thời hạn đăng kiểm thì chủ sở hữu mới có cần đăng kiểm lại phương tiện mới mua hay không? Xin luật sư tư vấn về vấn đề này.

Luật sư trả lời: Đối với xe cơ giới đi đăng kiểm sau ngày 1/4/2013, thủ tục đăng kiểm được thực hiện theo quy định tại thông tư 56/2012/TT-BGTVT quy định về kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Theo đó, chủ xe sẽ được nhận Giấy chứng nhận An toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường xe cơ giới cải tạo theo mẫu.

Căn cứ theo Thông tư 56/2012/TT-BGTVT, không có quy định bắt buộc các thông tin trên giấy chứng nhận phải trùng với giấy đăng ký sở hữu phương tiện. Bên cạnh đó, trong Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật này, chỉ có số xe, không có tên chủ xe, do vậy, nếu phương tiện đó vẫn còn thời hạn đăng kiểm thì chủ sở hữu mới không bắt buộc đăng kiểm lại.

 

Tính thuế khi tiến hành thủ tục sang tên đổi chủ

Trong chuyên mục Xe và Giao Thông trên Kênh VOVTV Đài tiếng nói Việt Nam, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật SBLAW có tư vấn về vấn đề tính thuế khi tiến hành thủ tục sang tên đổi chủ.

BTV: Thưa luật sư, hiện rất nhiều phương tiện lưu thông trên đường là xe đã qua sử dụng được mua lại từ chủ sở hữu khác. Và khi thực hiện việc chuyển đổi quyền sở hữu phương tiện thì vấn đề thuế phí được rất nhiều người quan tâm. Xin luật sư cho biết cách tính thuế khi tiến hành thủ tục sang tên đổi chủ xe đã qua sử dụng?

Luật sư trả lời:

Các quy định về lệ phí trước bạ được quy định tại Thông tư số 124/2011/TT-BTC hướng dẫn về lệ phí trước bạ.

Theo đó: Mức thu lệ phí trước bạsố tiền lệ phí trước bạ phải nộp được xác định như sau:

Số tiền lệ phí trước bạ phải nộp(đồng) = Giá tính lệ phí trước bạ(đồng) x Tỷ lệ lệ phí trước bạ(%)

Trong đó:

Giá tính lệ phí trước bạ là giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành để làm căn cứ tính lệ phí trước bạ.

Tỷ lệ lệ phí trước bạ:

Đối với xe máy nộp lệ phí trước bạ lần thứ 2 trở đi được áp dụng mức thu là 1% (Thông tư 124/2011/TT-BTC)

Đối với ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe) nộp lệ phí trước bạ lần thứ 2 trở đi với mức thu là 2% và không áp dụng thống nhất trên toàn quốc. (Nghị định 23/2013/NĐ-CP).

Xử phạt đối với những hành vi thay đổi màu sơn ngoại thất xe cũng như thay đổi kích cỡ la zăng

Trong chuyên mục Xe và Giao Thông trên Kênh VOVTV Đài tiếng nói Việt Nam, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật SBLAW có tư vấn về mức xử phạt đối với hành vi thay đổi màu sơn ngoại thất xe,

BTV: Và câu hỏi cuối cùng, xin luật sư cho biết mức xử phạt đối với những hành vi thay đổi màu sơn ngoại thất xe cũng như thay đổi kích cỡ la zăng của xe mà không đăng kí với cơ quan chức năng?

Luật sư Trả lời:

Đối với hành vi thay đổi màu sơn của xe: Căn cứ theo khoản 2 Điều 30 Nghị định 171/2013/NĐ-CP:

Điều 30. Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô, từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn;

b) Tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe;

Đối với hành vi thay đổi kích cỡ lazing của xe:

Khoản 3 Điều 16 Nghị định 171/2013/NĐ-CP.

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe lắp thêm đèn chiếu sáng về phía sau xe;

b) Điều khiển xe có hệ thống chuyển hướng của xe không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật;

c) Điều khiển xe không gắn đủ biển số hoặc gắn biển số không đúng vị trí; biển số không rõ chữ, số; biển số bị bẻ cong, bị che lấp, bị hỏng;

d) Điều khiển xe không lắp đủ bánh lốp hoặc lắp bánh lốp không đúng kích cỡ hoặc không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật;

 

Xử phạt khi thay đổi la zăng của bánh xe

Trong chuyên mục Xe và Giao Thông trên Kênh VOVTV Đài tiếng nói Việt Nam, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật SBLAW có tư vấn về vấn đề thay đổi La zăng của bánh xe.

BTV: Vậy còn về việc thay đổi kích cỡ La zăng của bánh xe, thủ tục thay đổi có giống với thay đổi mày sơn hay không thưa luật sư? Nếu khác thì khác ở điểm nào, Xin luật sư cho biết cụ thể ạ?

Luật sư trả lời:

La-zăng được làm từ nhiều chất liệu như thép, hơp kim nhôm, hợp kim magie hay carbon với nhiều mẫu mã và kích thước khác nhau.

Việc thay đổi la-zăng cho ô tô phải dựa trên những thông số của lốp và hốc bánh của xe.

Tuy nhiên, Lốp xe, vành xe của ô tô kích cỡ bao nhiêu do nhà thiết kế, chế tạo tính toán sẵn để phù hợp với hệ thống truyền lực và thích ứng với điều kiện đường xá…

Vì vậy, việc thay đổi la zăng của xe sẽ không đảm bảo thông số kỹ thuật như nhà sản xuất quy định.

Trong trường hợp này, các chủ xe không được thực hiện việc thay đổi kích thước la răng xe. Hành vi thay đổi kích thước La răng sẽ bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi dùng bánh lốp không đúng kích cỡ. như sau:

Khoản 3 Điều 16 Nghị định 171/2013/NĐ-CP.

“…

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe lắp thêm đèn chiếu sáng về phía sau xe;

b) Điều khiển xe có hệ thống chuyển hướng của xe không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật;

c) Điều khiển xe không gắn đủ biển số hoặc gắn biển số không đúng vị trí; biển số không rõ chữ, số; biển số bị bẻ cong, bị che lấp, bị hỏng;

d) Điều khiển xe không lắp đủ bánh lốp hoặc lắp bánh lốp không đúng kích cỡ hoặc không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật;

….”

Thay đổi màu sơn trước khi đến cơ quan đăng kiểm

Vịnh hạ long

Trong chuyên mục Xe và Giao Thông trên Kênh VOVTV Đài tiếng nói Việt Nam, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật SBLAW có tư vấn về vấn đề thủ tục pháp lý khi đổi màu sơn xe ô tô.

BTV: Có một trường hợp nảy sinh là, chủ phương tiện sẽ thực hiện việc thay đổi màu sơn trước khi đến cơ quan đăng kiểm để đăng kiểm lại hay sau khi được phép đổi màu sơn mới đi sơn lại phương tiện?

Luật sư trả lời: Theo quy định khoản 1 Điều 14 Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe:

Khi có nhu cầu thay đổi màu sơn gốc của xe, các chủ phương tiện phải đổi lại Giấy chứng nhận đăng ký xe.

Như vậy Chủ phương tiện sẽ thực hiện thay đổi màu sơn sau khi được phép đổi màu sơn mới đi sơn lại phương tiện vì nếu chủ phương tiện tự ý đổi màu sơn trước khi làm thủ tục đổi màu sơn đúng quy định thì sẽ bị xử phạt.

Mức xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này như sau:

Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô, từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn;

b) Tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe;

 

Thủ tục thay đổi màu sơn xe ô tô

Trong chuyên mục Xe và Giao Thông trên Kênh VOVTV Đài tiếng nói Việt Nam, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật SBLAW có tư vấn về vấn đề thủ tục pháp lý khi đổi màu sơn xe ô tô.

BTV: Thưa luật sư, trong thời gian sử dụng một chiếc ôtô, do va chạm cũng như sử dụng lâu năm nên màu sơn ngoại thất của chiếc xe không còn mới và đẹp như ban đầu. Trong trường hợp chủ phương tiên có nhu cầu thay đổi màu sơn gốc của chiếc xe thì cần phải làm những thủ tục gì và nơi nào tiếp nhận những thủ tục đó, thưa ông?

Luật sư trả lời

Căn cứ theo khoản 1 Điều 14 Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe: khi có nhu cầu thay đổi màu sơn gốc của xe, các chủ phương tiện phải đổi lại Giấy chứng nhận đăng ký xe.

Theo đó, khi bạn thay đổi màu sơn xe, theo quy định, bạn phải làm thủ tục đổi lại giấy chứng nhận đăng ký xe theo quy định của thông tư này, bao gồm như sau:

– Giấy khai đăng ký xe.

– Chứng minh nhân dân (nếu không có thì xuất trình sổ hộ khẩu).

(Hoặc Giấy giới thiệu của thủ trưởng cơ quan, đơn vị công tác, kèm theo Giấy chứng minh Công an nhân dân; Giấy chứng minh Quân đội nhân dân (theo quy định của Bộ Quốc phòng).

– Nộp lại giấy chứng nhận đăng ký xe.

Khi làm thủ tục đổi lại giấy chứng nhận đăng ký xe do xe thay đổi màu sơn, chủ phương tiện phải mang xe đến kiểm tra.

Nơi tiếp nhận thủ tục: Phòng cảnh sát giao thông cấp quận, huyện nơi Đăng ký xe.

Ly hôn khi vợ bỏ đi mà không có thông tin

TOUR-NHA-TRANG-TEAMBUILDING-VINPEARL-LAND

Đương sự hỏi: Do mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng nên vợ tôi đã bỏ đi hơn 2 năm nay mà không có thông tin nào. Vậy tôi có được quyền ly hôn với vợ không?

Luật sư trả lời: Theo quy định tại khoản 1 Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình có quy định: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Mặt khác theo quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình về căn cứ cho ly hôn có quy định:

Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn. Hiên tại vợ của anh đã bỏ đi và không có thông tin liên lạc nên anh phải thực hiện yêu cầu Tòa án tuyến bố vợ anh mất tích và yêu cầu cho ly hôn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 78 Bộ luật dân sự có quy định về tuyên bố một người mất tích như sau:

“Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Như vậy khi vợ anh biệt tích hơn 2 năm ( không có thông tin và không ai biết thông tin của vợ anh) thì Tòa án sẽ căn cứ vào thời gian mất tích, áp dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm trên truyền hình, báo chí …mà vẫn không có thông tin thì sẽ tuyên bố vợ anh mất tích. Cùng với việc tuyên bố vợ anh mất tích sẽ tiến hành việc ly hôn của anh với vợ theo quy định pháp luật.

Có được ly hôn khi chưa có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn?

Luật sư doanh nghiệp SBLaw
Luật sư doanh nghiệp SBLaw

Đương sự hỏi: Vợ chồng chúng tôi được hai bên nội ngoại tổ chức kết hôn từ năm 2002. Nhưng đến thời điểm này chúng tôi vẫn không đi đăng ký kết hôn. Vậy nếu tôi muốn ly hôn có được không?

Trả lời: Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì việc kết hôn phải được đăng ký và do UBND cấp xã phường thực hiện theo đúng trình tự pháp luật quy định. Giấy chứng nhận kết hôn sẽ được UBND cấp xã phường trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên. Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Đến thời điểm này nếu hai vợ chông chưa thực hiện việc đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã phường theo quy định pháp luật thì sẽ không được coi là vợ chồng.

Theo quy định tại điểm cmục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình có quy định như sau:

“Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết”.

Như vậy nếu chị muốn ly hôn thì Tòa án sẽ thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án giải quyết theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2000.

Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Đương sự hỏi: Vợ chồng tôi có 2 căn nhà và một số tài sản khác. Chồng tôi cứ đòi bán bớt nhà để lấy tiền góp vốn làm ăn với bạn nhưng tôi không đồng ý. Chúng tôi có được chia tài sản chung của vợ chồng được không.?

Luật sư trả lời:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì những tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung vợ chồng. Đây là tài sản chung hợp nhất, vì vậy khi định đoạt phải có sự đồng thuận của cả vợ và chồng.

Nhưng nếu người Chồng muốn kinh doanh riêng mà vợ không đồng ý thì cả hai có quyền thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Theo quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định:

“1. Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.

Như vậy nếu người chồng vì lí do muốn kinh doanh mà vợ không đồng thuận với phương án của chồng thì có quyền thỏa thuận chia tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân.

Thỏa thuận chia tài sản phải được lập thành văn bản. Nếu việc chia tài sản chung vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì không được pháp luật công nhận.

Khi chia tài sản chung vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.

Giành quyền nuôi con trong ly hôn

Luật sư SBLAW
Đương sự hỏi: Hiện tại, em đang muốn ly hôn, em có 1 con trai, năm nay hơn 4 tuổi. Em tốt nghiệp đại học. hiện đang đi làm nhưng lương không cao,
Chồng em, hiện là lái xe taxi, tài sản đứng tên chồng em chỉ có 1 chiếc xe máy. Còn lại đều là đứng tên Bố hoặc Mẹ chồng em. nói chung là gia đình Chồng em có điều kiện hơn em rất nhiều và có hộ khẩu tại Hà Nội.
Em chỉ có 1 lợi thế duy nhất là cách giáo dục con. Với điều kiện như trên thì e có  khả năng giành quyền nuôi con không ạ?
Luật sư trả lời: 

Theo thông tin bạn cung cấp thì hiện tại quan hệ vợ chồng đang mâu thuận và muốn ly hôn. Quan trọng là bạn muốn được giành quyền nuôi con. Theo quy định luật Hôn nhân và Gia đình thì khi ly hôn nếu các bên không thỏa thuận được việc nuôi con và cấp dưỡng thì Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Căn cứ để một bên được quyền nuôi con là căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt con như học, chăm sóc, nuôi dưỡng…để quyết dinh.
Vì vậy nếu bạn muốn được nuôi con thì phải chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ làm sao cho hội đồng xét xử thấy được việc bạn nuôi con là tốt nhất.