Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được kinh doanh bất động sản ở Việt Nam không?

Câu hỏi: Mình là Hạnh, ở Hà Nội. Qúy công ty cho tôi hỏi: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được kinh doanh bất động sản ở Việt Nam không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 thì phạm vi hoạt động của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có chức năng kinh doanh bất động sản gồm:

  • Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại;
  • Đối với đất được Nhà nước cho thuê thì được đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua;
  • Nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;
  • Đối với đất được Nhà nước giao thì được đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua;
  • Đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất.

Như vậy, theo quy định trên thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể kinh doanh bất động sản, tuy nhiên phải có chức năng kinh doanh bất động sản và phải năm trong phạm vi hoạt động trên.

Tư vấn pháp luật liên quan đến việc đăng ký thành lập doanh nghiệp

Câu hỏi: Mình là Khánh, ở Hà Nội. Hiện bên mình đang có nhu cầu thành lập một doanh nghiệp. Xin hỏi: Thủ tục để thành lập như thế nào? Vui lòng báo giá.

Luật sư tư vấn:

Chúng tôi đề cập đến yêu cầu cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật liên quan đến việc đăng ký thành lập doanh nghiệp của Quý Khách hàng. Do đó, chúng tôi hân hạnh đệ trình Quý Khách hàng bản Đề xuất dịch vụ tư vấn pháp luật này để Quý Khách hàng xem xét.

  1. NỘI DUNG CÔNG VIỆC

Lộ trình thực hiện thủ tục cấp phép sẽ được thực hiện với các bước như sau:

a, Chuẩn bị hồ sơ cấp phép: Chúng tôi sẽ thu thập thông tin và tài liệu cần thiết từ Quý Khách hàng. Sau khi nhận được thông tin cần thiết từ Quý Khách hàng, chúng tôi sẽ chuẩn bị hồ sơ theo quy định của pháp luật cũng như theo yêu cầu của cơ quan chức năng. Hồ sơ đăng ký sẽ được gửi tới Quý Khách hàng để rà soát và cho ý kiến nếu cần sửa đổi, bổ sung những nội dung trong hồ sơ đăng ký. Sau khi cập nhật hồ sơ dựa trên ý kiến của Quý Khách hàng, chúng tôi sẽ xin ý kiến sơ bộ của của cơ quan chức năng về hồ sơ đăng ký. Cuối cùng, chúng tôi sẽ gửi toàn bộ hồ sơ để Quý Khách hàng ký. Thời hạn để hoàn tất bước này dự kiến 02 ngày làm việc.

b, Thủ tục cấp phép: Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ có chữ ký và đóng dấu, chúng tôi sẽ nộp hồ sơ lên cơ quan chức năng. Sau 07 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ hợp lệ, Quý Khách hàng sẽ nhận được Giấy Chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp.

c, Thủ tục sau cấp phép: Trong vòng 03 ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày nhận được Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp, chúng tôi sẽ hỗ trợ Khách hàng hoàn thành thủ tục sau cấp phép bao gồm: đăng ký khắc con dấu doanh nghiệp; đăng công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp và đăng thông báo mẫu dấu doanh nghiệp trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

d, Nhằm tránh hiểu nhầm, chúng tôi xác nhận rằng, thủ tục hành chính tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể bị kéo dài hơn trên thực tế do cơ quan có thẩm quyền phải tham vấn ý kiến của các ban ngành, bộ liên quan trước khi cấp phép. Trong điều kiện đó, SB Law sẽ nỗ lực một cách hợp lý để thúc đẩy tiến độ công việc nhằm nhận được kết quả cấp phép trong thời gian sớm nhất.

2.   PHẠM VI CÔNG VIỆC

Phạm vi dịch vụ của chúng tôi bao gồm:

Mô tả phạm vi dịch vụ

A.      Chuẩn bị các tài liệu trong hồ sơ đơn :

–     Thông báo cho khách hàng về các tài liệu cần thiết;

–     Soạn thảo các tài liệu trong hồ sơ xin cấp phép bằng tiếng Việt, bao gồm: (i) Thông báo thành lập doanh nghiệp; (ii) Dự thảo Điều lệ công ty; (iii) các tài liệu khác (nếu có) theo yêu cầu của Sở Kế hoạch và đầu tư;

–     Trao đổi với khách hàng trong việc soạn thảo các tài liệu;

–     Điều chỉnh hồ sơ dựa trên ý kiến của khách hàng;

–    Tiếp thu ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền;

–     Hoàn thiện hồ sơ trên cơ sở nhận xét của cơ quan có thẩm quyền;

B.      Thủ tục cấp phép:

–     Nộp hồ sơ lên cơ quan có thẩm quyền cấp phép;

–     Theo dõi hồ sơ trong quá trình nhận sự chấp thuận từ cơ quan có thẩm quyền;

–    Cập nhật cho khách hàng về tiến trình cũng như những yêu cầu thêm, nếu có và hỗ trợ khách hàng trong việc nhận được Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp.

C.      Thủ tục sau cấp phép:

–      Thông báo về việc đăng ký thành lập doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; Đăng ký khắc con dấu và công bố mẫu con dấu doanh nghiệp trên Công thông tin.

  1. PHÍ DỊCH VỤ

Phí cho những dịch vụ của SB Law như được đề cập ở mục 2 như nêu trên là 6.000.000 VNĐ (Sáu triệu đồng).

(Phí dịch vụ đã bao gồm phí nhà nước và phí khắc con dấu cho Quý Khách hàng nhưng chưa bao gồm 10% thuế VAT)

Dự án BT: Phải lấp đầy “khoảng trống” pháp lý

Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho phát triển ở Việt Nam rất lớn, hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT) được coi là một sáng tạo, đóng vai trò quan trọng trong phát triển hạ tầng. Tuy nhiên, trên thực tế, các dự án BT còn hàng loạt hạn chế, thậm chí có sự biến tướng trở thành mảnh đất “màu mỡ” của tệ tham nhũng, lợi ích nhóm, …

Quy định về dự án BT có nhiều chỗ trống, chồng chéo lẫn nhau

Ngay từ những năm đầu của thập kỷ 90, Việt Nam đã thu hút nguồn lực từ nước ngoài thông qua hình thức Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (gọi tắt là BT hay đổi đất lấy hạ tầng), một hình thức của đầu tư đối tác công tư (PPP). Trong hợp đồng BT, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước, Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng. Dự án BT cũng được sử dụng với tên gọi là dự án “đổi đất lấy hạ tầng”.

Dự án BT có nhược điểm như thay vì trả nhà đầu tư (NĐT) công trình bằng tiền thì nhà nước lại trả bằng tài sản công, tức là giao dịch dưới dạng “hàng đổi hàng” – hình thức này vốn chỉ được áp dụng trong giai đoạn thương mại kém phát triển.

Nguyên tắc cơ bản của hình thức đầu tư đối tác công tư là NĐT bỏ tiền để xây dựng hạ tầng, dịch vụ công cộng để thu phí từ người sử dụng trong giai đoạn vận hành. Tuy nhiên, hình thức BT lại không đi theo nguyên tắc này.

Vấn đề trung tâm của các dự án BT là việc xác định giá trị đúng của cả công trình hạ tầng và tài sản công đem đổi. Tuy nhiên, các văn bản quy định về xác định giá trị này hiện không cụ thể, thiếu minh bạch và tồn tại nhiều khoảng trống, gây nguy cơ tham nhũng lớn. Cụ thể:

Luật Đất đai năm 2013 chỉ có Khoản 3 Điều 155 quy định về việc nhà nước giao cho nhà đầu tư quản lý diện tích đất để thực hiện dự án. Ngoài ra không có quy định cụ thể nào về đất đai, loại đất, giá trị đất đai để trả cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT. Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định thi hành chi tiết Luật Đất đai có riêng Điều 54 quy định về đất thực hiện dự án BT và BOT. Tuy nhiên, Nghị định này cũng chỉ quy định về việc nhà nước giao đất và chuyển giao đất, không hề có quy định gì về loại đất đem đổi và xác định giá trị đất đai đem đổi. Như vậy, đang tồn tại một khoảng trống pháp lý rất lớn về dự án BT tại Luật Đất đai và văn bản hướng dẫn Luật này, trong khi nhiều văn bản khác về BT lại quy chiếu về việc thực hiện theo quy định của Luật Đất đai.

Nghị định 15/2015/NĐ-CP có 5 nội dung liên quan đến dự án BT như: Khoản 5 Điều 3; Khoản 3 Điều 14; Khoản 3, Điều 43; Khoản 2, Điều 48 và Điều 65. Mặc dù vậy, khi phân tích sâu về khía cạnh chi phí – lợi ích thì có thể thấy nhiều bất lợi cho nhà nước khi thực hiện Nghị định này.

Thứ nhất, về nguyên tắc, đất đai trả cho nhà đầu tư chỉ được thực hiện sau khi công trình hạ tầng hoàn thành, nghiệm thu về chất lượng, quyết toán tài chính và kiểm toán độc lập vì lúc đó mới biết rõ giá trị cụ thể. Tuy nhiên, Nghị định số 15/2015/NĐ-CP cho phép thực hiện ngay trong lúc đang triển khai xây dựng công trình hạ tầng tùy thuộc vào thỏa thuận giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư dự án BT.

Thứ hai là không có quy định chi tiết về đánh giá chất lượng và định giá giá trị công trình hạ tầng và định giá khu đất để trả cho nhà đầu tư là một khoảng trống pháp luật rất lớn.

Thứ ba, vấn đề quản lý giá trị trao toàn quyền cho Bộ Tài chính là một cơ chế quản lý gắn với nguy cơ tham nhũng rất cao.

Thứ tư, Nghị định 15 khẳng định hợp đồng BT là căn cứ chủ yếu để hai bên Nhà nước và nhà đầu tư thực hiện mà không có quy định cụ thể về loại hợp đồng này cũng là một khoảng trống lớn về pháp luật.

Theo quy định, các dự án đầu tư mới từ nguồn ngân sách nhà nước đều phải là những dự án cần thiết, thực sự cấp bách. Thực chất, các dự án BT đều sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước nhưng các văn bản pháp luật lại không quy định đó phải là các dự án cần thiết, thực sự cấp bách. Thực tế, hầu hết các dự án đầu tư theo hình thức BT không nằm trong kế hoạch đầu tư trung hạn, không được thông qua Hội đồng nhân dân, một số địa phương còn giao việc thực hiện dự án BT cho các nhà đầu tư đã được giao dự án trước đó nhưng chưa nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách.

Quy định về thời điểm giao đất để thanh toán dự án BT và thời điểm giao dự án BT còn bất cập, không rõ ràng khiến việc thanh toán dự án bằng quỹ đất không đảm bảo nguyên tắc ngang giá.

Theo quy định, địa phương giao đất, cho thuê đất để thanh toán cho nhà đầu tư trước khi phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng dự án BT, thanh toán cho nhà đầu tư đồng thời hoặc sau khi phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình dự án BT. Giá đất quy định được xác định tại thời điểm giao đất, giá trị công trình BT được xác định tại thời điểm quyết toán công trình.

Hầu hết các dự án BT được giao đất trước khi hoàn thành công trình, có đơn giá đất tại thời điểm giao đất thấp hơn nhiều so với đơn giá đất tại thời điểm bàn giao công trình. Điều này khiến việc thanh toán không đảm bảo nguyên tắc ngang giá, làm lợi cho nhà đầu tư và thiệt hại cho ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, việc thanh toán trước cho nhà đầu tư trong khi nhà đầu tư chưa phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) do công trình chưa hoàn thành thực chất là thanh toán trước tiền thuế GTGT cho nhà đầu tư tại thời điểm chưa phát sinh. Đây là điểm bất hợp lý, tạo ra việc chiếm dụng vốn từ ngân sách, tạo điều kiện để doanh nghiệp gian lận thuế, không kê khai thuế GTGT do thuế này được đối trừ trực tiếp vào giá trị đất.

Quy định về phương án tài chính yêu cầu, vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không được thấp hơn 10% hoặc 15% tổng vốn đầu tư, như vậy phần vốn còn lại là vốn đầu tư của nhà nước hoặc vốn vay huy động của nhà đầu tư. Như vậy, thực chất gần như toàn bộ dự án là vốn nhà nước hoặc vốn nhà nước đi vay, điều này cho thấy việc thực hiện dự án BT không thực sự giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

Bên cạnh đó, quy định về thời điểm nhà đầu tư phải góp đủ số vốn chủ sở hữu cũng chưa có nên nhà đầu tư không bị bắt buộc phải góp đủ vốn chủ sở hữu theo tỷ lệ tối thiểu tại mọi thời điểm. Kết quả kiểm toán cho thấy, tình trạng nhà đầu tư góp vốn chủ sở hữu không đạt mức cam kết trong hợp đồng còn diễn ra ở nhiều địa phương, …

Giá đất của các khu đất thanh toán cho các hợp đồng BT thường thấp hơn giá thị trường do không thông qua đấu giá, mỗi địa phương lại đưa ra phương án tính giá khác nhau; chưa có văn bản quy định cụ thể về tỷ suất lợi nhuận của nhà đầu tư; tổng mức đầu tư được lập và phê duyệt chưa đảm bảo theo quy định làm tăng vốn cho dự án… là những bất cập khác còn tồn tại trong phương án tài chính của các dự án BT.

Đồng thời, hầu hết các nhà đầu tư thực hiện dự án BT đều được chỉ định mà không thông qua đấu thầu; nhà đầu tư lại tự lựa chọn các đơn vị tư vấn, thiết kế, thi công, giám sát dẫn đến không đảm bảo tính khách quan; việc ký kết hợp đồng BT không chặt chẽ, thiếu chế tài khi nhà đầu tư vi phạm về tiến độ, chất lượng công trình, …

Ngoài ra, Điều 44 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017: “Nhà nước cho phép sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao quy định tại pháp luật về đầu tư”, trong đó được sử dụng không chỉ đất đai mà cả các loại tài sản công khác. Nhưng trên thực tế, các nhà đầu tư dự án BT chỉ đòi trả bằng đất ở được sử dụng vô thời hạn.

Như vậy, có thể thấy dự án BT được quy định với nhiều nội dung chi tiết hơn tại Nghị định số 15/2015/NĐ-CP và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, nhưng lại quá nhiều khoảng trống trong quy định tại Luật Đất đai 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành. Đồng thời, giữa các văn bản này cũng đang có sự chồng chéo.

Hệ lụy và giải pháp

Một hệ lụy tất yếu thất thoát trong dự án BT là “thất thoát kép”. Thứ nhất, hàng hóa “cơ sở hạ tầng” mà dự án BT đưa ra chào do không có cạnh tranh cho nên không phản ánh theo giá thị trường. Thứ hai, thất thoát từ đất đai.

Hệ lụy từ các dự án BT, nếu được phân tích đầy đủ, nghiêm túc, minh bạch thì suất đầu tư ở Việt Nam quá cao so với thế giới. Với cơ chế hiện nay thì bất bình đẳng trong xã hội vẫn còn tiếp diễn đó là nhà đầu tư (nhóm lợi ích nào đó) tìm cách kiếm lời bất chính trên thân phận những người dân mất đất được đền bù với giá rẻ mạt.

Với thực trạng để cho nhà đầu tư tự đề xuất dự án, nhà nước thẩm định và đấu thầu theo những quy định lỏng lẻo của luật pháp cùng với sự thiếu minh bạch, phản biện của xã hội vô hình chung trở thành môi trường béo bở để nhà đầu tư, các nhóm lợi ích bắt tay với quan chức tham nhũng kiếm tiền bất hợp pháp.

Để áp dụng đầu tư theo hình thức BT, thiết nghĩ, trước hết phải lấp đầy “khoảng trống” pháp luật, Cụ thể, cần có quy định chi tiết về yêu cầu phân tích chi phí – lợi ích giữa cơ chế BT và cơ chế nhà nước đấu giá tài sản công để lấy tiền xây dựng hạ tầng (hoặc làm cơ sở cho quyết định thực hiện dự án BT); các nội dung cụ thể phải được đề cập trong hợp đồng thực hiện dự án BT giữa nhà nước và nhà đầu tư.

Không cho phép giao đất để trả cho nhà đầu tư trước khi nghiệm thu, hoàn thành đánh giá chất lượng và định giá giá trị; sử dụng đất ở để trả cho nhà đầu tư hạ tầng phải phù hợp với kế hoạch phát triển nhà ở cân đối với hạ tầng trong phát triển đô thị.

Đồng thời, phải có quy định cụ thể về yêu cầu công khai, minh bạch toàn bộ thông tin về dự án BT, tạo cơ chế để người dân tham gia giám sát và quy định trách nhiệm giải trình của các cơ quan Nhà nước có liên quan. Cần quy định trách nhiệm kiểm tra, thanh tra định kỳ và đột xuất về triển khai các dự án BT của UBND cấp tỉnh nơi có dự án và của các Bộ có liên quan như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ TN&MT, Thanh tra Chính phủ.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà, công ty luật SBLAW

Quyền của bên nhận cầm cố

Câu hỏi: Chào luật sư, tôi có câu hỏi sau đây muốn được giải đáp. Người bạn tôi có vay tôi khoản tiền 700 triệu và có giao cho tôi mảnh đất là rừng trồng cây của cố ấy để cầm cố như là biện pháp đảm bảo rằng cố ấy sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tôi. Vậy xin luật sư cho tôi biết tôi có quyền gì đối với mảnh đất rừng này?

Trả lời: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho chúng tôi.  Đối với câu hỏi của bạn chúng tôi xin có ý kiến tư vấn như sau. Theo quy định tại Điều 314 Bộ luật Dân sự thì bên nhận cầm cố có những quyền sau:

      “1. Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó.

  1. Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
  2. Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận.
  3. Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố.”

 

Như vậy  đối với mảnh rừng cầm cố nêu trên bạn là bên nhận cầm cố có quyền  Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại mảnh đất rừng này;  Xử lý mảnh đất rừng  theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật;  Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng của mảnh đất rừng  và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận; . Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản mảnh rừng này khi trả lại nó  cho bạn của bạn.

 

Dùng tài sản có giá trị nhỏ hơn để đảm bảo cho nghĩa vụ có giá trị lớn hơn

Câu hỏi: Xin chào luật sư. Xin luật sư cho tôi biết theo quy định của pháp luật dân sự hiện tại nếu tôi có một chiếc máy tính trị giá 20 triệu thì tôi có thể dùng nó làm tài sản đảm bảo để vay số tiền 50 triệu từ bác họ của tôi không? Hay là tôi chỉ có thể dùng nó để làm tài sản vay số tiền là 20 triệu?

Trả lời: Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc của mình đến công ty của chúng tôi . Đối với thắc mắc này chúng tôi xin có giải đáp như sau. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 295 Bộ luật dân sư 2015 thì “giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm” . Như vậy pháp luật hiện hành cho phép dùng việc tài sản có giá trị nhở hơn so  để đảm bảo cho nghĩa vụ có giá trị lớn hơn. Như vây pháp luật bạn có thể dùng một chiếc máy tính trị giá 20 triệu  làm tài sản đảm bảo để vay số tiền 50 triệu từ bác họ bạn nếu bác họ bạn đồng ý với việc này.

 

 

Đăng ký thế chấp tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

Câu hỏi : Xin chào luật sư. Tôi có thắc mắc sau  muốn nhờ luật sư tư vấn và giải đáp  Người quen của tôi có hỏi vay tôi một khoản tiền và muốn thế chấp chiếc xe máy SH của anh ấy  đang sử dụng để làm biện pháp đảm bảo. Sắp tới đây trước khi chính thức đưa tiền cho anh ta vay tôi muốn đăng ký biện pháp đảm bảo cho mình để tránh phát sinh những tình huống không hay sau này. Tôi nghe nói là mới có Dự thảo Nghị định về việc đăng ký biện pháp đảm bảo. Xin luật sư cho tôi hỏi là nếu tôi đăng ký biện pháp đảm bảo  mà tài sản đảm bảo là chiếc xe máy SH của anh bạn tôi thì có Dự thảo có quy định gì bắt buộc trong việc mô tả tài sản  đảm bảo này không?

 

Câu trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi của bạn cho chúng tôi. Đối với thắc mắc này chúng tôi xin có giải đáp như sau.  Điều 45 Dự thảo Nghị định đăng ký các biện pháp bảo đảm có quy định như sau về việc mô tả tài sản đảm bảo.

 “ 1. Người yêu cầu đăng ký có thể mô tả cụ thể hoặc mô tả chung về tài sản. Việc mô tả chung về tài sản không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của đăng ký biện pháp bảo đảm, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Trường hợp tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và tài sản này không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc tài sản hình thành trong tương lai thì người yêu cầu đăng ký mô tả chính xác số khung của phương tiện giao thông cơ giới đó

Như vậy trong trường hợp bạn muốn đăng ký tài sản thế chấp là chiếc xe máy SH đang sử dụng của người bạn mình thì  theo Dự thảo Nghị định đăng ký các biện pháp đảm bảo  khi mô tả tài sản dùng để làm biện pháp  đảm bảo người đăng ký phải mô tả chính xác số khung của chiếc xe SH này. Đây là yêu cầu bắt buộc và nó sẽ ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của việc đăng ký biện pháp đảm bảo này.

Hy vọng câu trả lời của chúng tôi đã giải đáp được thắc mắc của bạn. Nếu có vấn đêg gì cần tư vấn thêm thì xin bạn vui lòng liên hệ với công ty của chúng tôi để được giải đáp.

 

Đăng ký thế chấp động sản

Câu hỏi:  Chào luật sư, tôi có câu hỏi sau đây muốn được giải đáp. Người quen của tôi muốn vay tiền để giải quyết việc cá nhân. Anh ta muốn lấy chiếc xe hơi của mình ra thế chấp để đảm bảo là sẽ  thực hiện trách nhiệm trả nợ cho tôi sau này. Về phần mình, tôi muốn đăng ký giao dịch đảm bảo bằng chiếc xe hơi này để tránh trường hợp có vấn đề không hay gì về sau.  Tôi cũng đọc báo và biết thông tin rằng có một dự thảo Nghị định về đăng ký giao dịch đảm bảo. Xin luật sư cho tôi hỏi là theo Dự thảo Nghị định này  nếu tôi muốn đăng ký biện pháp đảm bảo nêu trên mà pháp luật không bắt buộc phải đăng ký thì tôi có thể đăng ký được không? Và tôi phải liên hệ với cơ quan nào để đăng ký?

Câu trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi của mình đến cho công ty của chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Theo quy định định tại điều 298 Bộ Luật Dân sự 2015 thì

“1. Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.

Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định

2. Trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

3.Việc đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm”

Dự thảo Nghị định đăng ký giao dịch đảm bảo có phân đĩnh rõ những biện pháp đảm bảo bắt buộc phải đăng ký và những biện pháp đảm bảo đăng ký theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Cụ thể Điều 4 của Dự thảo Nghị định đăng ký biện pháp bảo đảm như sau:

1.Các biện phápbảo đảm sau đây phải đăng ký:

a) Thế chấp quyền sử dụng đất;

b) Thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng;

c) Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay;

d) Thế chấp tàu biển;

đ) Các trường hợp khác, nếu luật có quy định.

2.Các biện pháp bảo đảm được đăng ký khi tổ chức, cá nhân có yêu cầu, gồm:

a) Thế chấp động sản, trừ tàu bay, tàu biển;

b) Thế chấp tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai;

c) Bảo lưu quyền sở hữu;

d) Các trường hợp khác.

3.Việc đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ, hợp đồng cho thuê tài chính và các giao dịch dân sự khác được đăng ký theo quy định của Nghị định này khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu.

Như vậy, trong tình huống của bạn chiếc xe hơi là động sản nhưng không phải là tàu bay, tàu biển do vậy theo dự thảo này việc thế chấp sẽ được đăng ký theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Như vậy thì mặc dù biện pháp đảm bảo này pháp luật không bắt buộc bạn phải đăng ký nhưng nếu bạn có mong muốn thì có thể yêu cầu cơ quan đăng ký tiến hành đăng ký.

Điều 62 Dự thảo Nghị định có quy định như sau về Cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm và cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm

  1. Cục Hàng không Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay.
  2. Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về thế chấp tàu biển.
  3. Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện phápbảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
  4. Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng động sản, trừ tàu bay, tàu biển và các tài sản khác không thuộc thẩm quyền đăng ký của các cơ quan quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này.

Như vậy trong trường hợp bạn là bên nhận thế chấp chiếc xe hơi thì theo yêu cầu của bạn  Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp thực hiện đăng ký biện pháp đảm bảo này cho bạn. Nếu có thắc mắc gì thêm xin bạn vui lòng liên hệ với công ty của chúng tôi.

 

Đăng ký thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng

    Chào luật sư, tôi có câu hỏi sau đây muốn nhờ luật sư giải đáp. Một người quen của tôi đang hỏi vay tôi một số tiền để giải quyết việc gia đình. Anh ta muốn lấy mảnh đất rừng sản xuất là rừng trồng ở quê thuộc quyền sở hữu của anh ta ra để thế chấp.  Gần đây tôi nghe báo đài nói là theo Dự thảo nghị định mới về đăng ký các biện pháp đảm bảo thì có một số  biện pháp đảm bảo bắt buộc phải đăng ký. Vậy xin luật sư cho tôi biết nếu tôi nhận mảng rừng sản xuất trên là tài sản đảm bảo thì tôi có cần phải đăng ký không?

Câu trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty của chúng tôi. Đối với câu trả lời của bạn chúng tôi xin có ý kiến tư vấn như sau. Theo quy định định tại điều 298 Bộ Luật Dân sự thì:

       “1. Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.

Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định.

  1. Trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
  2. Việc đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm”

Theo quy định tại Điều 4  Dự thảo Nghị định về đăng ký các biện pháp đảm bảo thì  Các biện pháp bảo đảm sau đây phải đăng ký:

 a) Thế chấp quyền sử dụng đất;

b) Thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng;

c) Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay;

d) Thế chấp tàu biển;

đ) Các trường hợp khác, nếu luật có quy định.

Như vậy trong trường hợp của bạn, nếu người quen của bạn lấy rừng sản xuất là rừng trồng  để làm tài sản đảm bảo đối với trách nhiệm  phải trả lại tiền anh ta sẽ vay của bạn thì theo quy định của Dự thảo Nghị Định này và Bộ Luật Dân sự 2015 giao dịch đảm bảo này phải được đăng ký. Và việc đăng ký sẽ là việc bắt buộc để giao dịch này có hiệu lực.  Hy vọng rằng câu trả lời của chúng tôi đã giải đáp được thắc mắc của bạn. Nếu cần tư vấn gì thêm xin bạn hãy liên hệ với chúng tôi.

Dự thảo Nghị định về đăng ký biện pháp bảo đảm

Trong những năm gần đây nhiều văn bản pháp luật mới tại nước tad đã được ban hành  như Luật Đất đai 2013, Luật Nhà ở 2014; Bộ luật dân sự năm 2015. Việc ra đời của các văn bản pháp luật mới này đã khiến cho quy định của nhiều Nghị định cũ  không còn phù hợp với các các văn bản pháp luật mới. Một trong số đó là Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm . Thêm vào đó, chính việc thiếu các quy định chi tiết, cụ thể trong pháp luật về giao dịch bảo đảm hiện hành cũng khiến cho việc thực hiện các công tác đăng ký các giao dịch này trên thực tế gặp không ít khó khăn.

Chính vì vậy Bộ tư pháp đã tiến hành xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Nghị định về đăng ký biện pháp đảm bảo nhằm đảm bảo tính nhất quán của các văn bản pháp luật liên quan tới nhau trong hệ thống văn bản pháp luật cũng như khắc phục những hạn chế của Nghị định 83/2010/NĐ-CP, qua đó hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc ký kết và thực hiện các giao dịch đảm bảo. Hiện nay Bộ Tư pháp đã hoàn thành việc lấy ý kiến đóng góp cho bản dự thảo này.

Dự thảo có giải thích thuật ngữ  “Đăng ký biện pháp bảo đảm” là việc cơ quan đăng ký ghi vào sổ đăng ký hoặc nhập vào cơ sở dữ liệu những thông tin về việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm.

Dự thảo Nghị định tách bạch rõ 2 trường hợp: trường hợp bắt buộc phải đăng ký  và trường hợp đăng ký theo yêu cầu.

Dự luật quy định các biện pháp bảo đảm sau bắt buộc phải đăng ký: a- Thế chấp quyền sử dụng đất; b- Thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng; c- Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; d- Thế chấp tàu biển; đ- Các trường hợp khác, nếu luật có quy định.

Những biện pháp đảm bảo sau đây sẽ được đăng ký khi các tổ chức và cá nhân có yêu cầu: a- Thế chấp động sản, trừ tàu bay, tàu biển; b- Thế chấp tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; c- Bảo lưu quyền sở hữu; d- Các trường hợp khác.

Việc đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ, hợp đồng cho thuê tài chính và các giao dịch dân sự khác được đăng ký theo quy định của Nghị định này khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu.

Cần lưu ý rằng  bảo lưu quyền sở hữu là một biện pháp bảo đảm mới được quy định tại Điều 331 đến Điều 334 Bộ luật dân sự năm 2015.

Việc đăng ký các biện pháp đảm bảo sẽ làm pháp sinh hiệu lực đối kháng đối với người thứ ba tại thời điểm đăng ký. Quy định này cũng được ghi rõ trong dự thảo Nghị định trên cơ sở  các quy định được nêu tại  Điều 297 và Điều 298 Bộ luật dân sự năm 2015.

Việc đăng ký biện pháp bảo đảm có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký đến thời điểm xoá đăng ký theo đơn của người yêu cầu xoá đăng ký.

Đáng lưu ý là dự thảo Nghị định cũng  bổ sung những căn cứ  đề từ chối việc đăng ký các giao dịch đảm bảo như: Không thuộc thẩm quyền đăng ký; nội dung đăng ký vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội; khi phát hiện thông tin trong hồ sơ đăng ký không đúng sự thật hoặc có giấy tờ giả mạo; tài sản bảo đảm không đủ điều kiện để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; tài sản bảo đảm đang có tranh chấp và đã có văn bản thụ lý việc giải quyết tranh chấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; người yêu cầu đăng ký không nộp phí đăng ký; kê khai nội dung đăng ký không đúng quy định của pháp luật…

 

Thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình

Câu hỏi: Xin chào luật sư. Chúng tôi có câu hỏi như sau muốn được luật sư tư vấn. Chúng tôi kinh doanh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Chúng  tôi có nghe Dự thảo Nghị định quy định các biện pháp thi hành bộ luật dân sự về giao dịch đảm  bảo  mới có quy định cụ thể đối với việc sử dụng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất mà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi người sử dụng đất là hộ gia đình làm tài sản thế chấp. Luật sư có thể nói rõ hơn cho chúng tôi về quy định mới này trong dự thảo không?

Trả lời:   Xin cảm ơn  cácbạn đã gửi câu hỏi của mình đến công ty chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau. Vâng, đúng là  hiện nay Dự thảo Nghị định quy định các biện pháp thi hành bộ luật dân sự về giao dịch đảm  bảo  đã được Bộ tư pháp hoàn thành việc đóng góp lấy ý kiến. Theo  Điều 18 của Dự thảo này thì “ Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất mà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi người sử dụng đất là hộ gia đình thì người có tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc người được ủy quyền ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nếu có sự đồng ý bằng văn bản của các thành viên hộ gia đình.

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất do người có tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc người được ủy quyền xác lập, thực hiện mà có sự đồng ý bằng văn bản của các thành viên hộ gia đình làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình.”

Như vậy là nếu  theo quy định của Dự thảo này thì khi khách hàng của bạn đến vay tiền mà muốn dùng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà để thế chấp mà  trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà lại ghi tên  người sử dụng đất, sở hữu nhà là hộ gia đình thì những tài sản trên chỉ có thể được mang thế chấp nếu có sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các thành viên trong hộ gia đình. Đồng thời sự đồng ý  này bằng văn bản của các thành viên hộ gia đình làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình.

 

Có thể dùng căn hộ chung cư chưa xây xong của mình để thế chấp ngân hàng không?

Câu hỏi:  Xin chào luật sư. Tôi có hợp đồng mua căn hộ chung cư nằm trong tòa nhà chung cư đang được xây dựng và theo tiến độ sẽ hoàn thành cuối năm sau. Tôi đã thanh toán một nửa tiền theo hợp đồng. Số tiền còn lại sẽ được thanh toán theo đợt  tương ứng với tiến bộ hoàn thành của tòa nhà. Sắp tới đây tôi có việc làm ăn cần vốn và muốn vay tiền ngân hàng nhưng không có tài sản sẵn có để thế chấp.  Vậy luật sư cho tôi hỏi tôi có thể dùng căn hộ chung cư chưa xây xong của mình để thế chấp ngân hàng không?

Câu trả lời. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty của chúng tôi. Đối với câu hỏi của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau. Quy định về tài sản đảm bảo được nêu tại điều 295 Bộ luật Dân sự 2015.

“Điều 295. Tài sản bảo đảm

  1. Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.
  2. Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.
  3. Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
  4. Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.”

Như vậy theo quy định của bộ Luật dân sự 2015 thì tài sản đảm bảo có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Căn hộ chung cư bạn đã đóng một nửa tiền nhưng chưa được nhận nhà do căn hộ chưa xây xong là tài sản hình thành trong tương lai của bạn. Và bạn pháp luật cho phép bạn  dùng căn hộ này làm tài sản thế chấp đảm bảo để vay vốn ngân hàng. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi đã giải đáp được thắc mắc của bạn. Nếu cần tư vấn gì thêm xin bạn liên hệ với chúng tôi.

Hiệu lực đối kháng của biện pháp đảm bảo đối với người thứ ba

Nhận lời mời của Ban biên tập báo Diễn đàn doanh nghiệp, luật sư Nguyễn Thanh Hà chủ tịch SBLAW đx có phần trả lời về Tính chất pháp lý của quy định Khuyến mại 20% trong dịch vụ viễn thông.

Câu hỏi:  Xin chào Luật sư.  Tôi có thắc mắc như sau muốn được  giải đáp, Tôi có người bạn muốn vay tôi một khoản tiền và hứa sẽ lấy  tài sản của anh ta ra để đảm bảo việc thực hiện trách nhiệm của mình với tôi. Nhưng tôi lo sợ rằng sau đó bạn tôi có thể có các khoản nợ với những người khác và có thể tài sản mà anh ta mang ra bảo đảm với tôi sẽ bị các cơ quan có thẩm quyền thu hồi để thực hiện nghĩa vụ của  anh ta đối bới những người khác. Tôi Xin luật sư  tư vấn cho tôi  biết về quy định của pháp luật về hiệu lực đối kháng của biện pháp đảm bảo đối với người thứ ba?

Câu trả lời:  Chào bạn,  cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty của chúng tôi. Đối với thắc mắc của các bạn chúng tôi xin có câu trả lời như sau.

Như chúng ta đã biết Bộ luật Dân sự mới  2015 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2017. So với Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Dân sự 2015 có một số quy định mới đối với giao dịch đảm bảo. Chính vì vậy việc  việc ban hành các văn bản mới hướng dẫn thực hiện các quy định mới này là hết sức cần thiết. Và hiện nay Dự thảo Nghị định quy định các biện pháp thi hành bộ luật dân sự về giao dịch đảm  bảo  đã được Bộ tư pháp hoàn thành việc đóng góp lấy ý kiến.

Về vấn đề hiệu lực đối kháng của biện pháp đảm bảo đối với bên thứ ba. Theo quy định tại khoản 1 Điều 297. “ Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm.”.

Hiện nay  Điều 9 Dự thảo  Nghị định quy định các biện pháp thi hành bộ luật dân sự về giao dịch đảm  bảo có quy định cụ thể  về thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng của biện pháp đảm bảo đối với bên thư ba như sau:

Điều 9. Thời điểm biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba:

  1. Biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc kể từ thời điểm bên nhận bảo đảm nắm giữ thực tế tài sản bảo đảm hoặc kể từ thời điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản trong trường hợp cầm giữ tài sản.
  2. Trong trường hợp giao dịch bảo đảm được giao kết hợp pháp và biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác không được kê biên tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ khác của bên bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”

Như vậy theo quy định mới của Bộ luật  Dân sự 2015  biện pháp đảm bảo phát sinh hiệu lực đối kháng đối với bên thư ba khi: biện pháp đảm bảo được đăng kí hoặc tài sản đảm bảo được nắm giữ hoặc chiếm giữ bởi bên nhận đảm bảo. Trong trường những  hợp này thì Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác không được kê biên tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ khác của bên bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.