Tư vấn hợp đồng đào tạo.

Câu hỏi: Chúng tôi là một trường cao đẳng nghề tại TP Hồ Chí Minh, muốn ký môt hợp đồng đào tạo với một doanh nghiệp để mở các khoá học dạy làm đẹp, đề nghị SBLAW báo giá.

Trả lời: SB Law được yêu cầu hỗ trợ tư vấn cho Quý trường (Sau đây gọi tắt là “Khách hàng”) soạn thảo hợp đồng hợp tác kinh doanh với một doanh nghiệp để mở các khóa học dạy làm đẹp.

Do vậy, chúng tôi hân hạnh đệ trình Quý Khách hàng Bản đề xuất dịch vụ tư vấn pháp luật này để Quý Khách hàng tiện xem xét.

1.PHẠM VI CÔNG VIỆC

Trên cơ sở yêu cầu tư vấn pháp luật của Quý Khách hàng, chúng tôi dự liệu phạm vi cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật như sau:

1. Tư vấn chung :

 Tìm hiểu các yêu cầu, mục đích cần hướng tới của Quý Khách hàng trong giao dịch mục tiêu;

 Phân tích, đánh giá các rủi ro pháp lý mà Quý Khách hàng cần lưu tâm trong quá trình tham gia thực hiện Giao dịch mục tiêu;

 Các vấn đề pháp lý cần quan tâm khác để bảo đảm tính pháp lý của Giao dịch mục tiêu.

2. Soạn thảo Hợp đồng:

 Soạn thảo văn kiện hợp đồng trên cơ sở bảo đảm tốt nhất quyền lợi của Quý Khách hàng theo quy định của pháp luật Việt Nam;

Hiệu chỉnh dự thảo văn kiện hợp đồng hợp trên cơ sở ý kiến đánh giá và khuyến nghị của Quý Khách hàng.

Với phạm vi dịch vụ như nêu trên, chúng tôi dự liệu kế hoạch triển khai công việc như sau:

a. Tư vấn chung: Chúng tôi sẽ thu thâp thông tin và tài liệu cần thiết từ Quý Khách hàng. Sau khi nhận được thông tin cần thiết từ Quý Khách hàng, chúng tôi sẽ nghiên cứu, đánh giá về các vấn đề pháp cần lưu tâm trong quá trình thực hiện Giao dịch mục tiêu. Để phục vụ cho việc hiểu rõ thêm mục tiêu cũng như địa vi pháp lý hiện thời của Quý Khách hàng, chúng tôi có thể đề xuất gặp gỡ trực tiếp để thảo luận chi tiết giữa Luật sư của chúng tôi và Đại diện của Quý khách hàng.

b. Soạn thảo văn kiện hợp đồng: Trên cơ sở hiểu rõ mục tiêu và địa vị pháp lý của Quý Khách hàng, chúng tôi sẽ rà soát và hiệu chỉnh Hợp đồng trên cơ sở bảo đảm tốt nhất quyền lợi của Quý Khách hàng theo khuôn khổ quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam. Chúng tôi dự liệu thời gian soạn thảo văn kiện hợp đồng bằng tiếng Việt là 10 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc giai đoạn tư vấn chung. Thời gian này không bao gồm thời gian để thực hiện hiệu chỉnh Hợp đồng theo yêu cầu của Quý Khách hàng

2. PHÍ DỊCH VỤ

Phí cho những dịch vụ của SB Law như được đề cập ở mục 2 ở trên như sau:

– Chi phí soạn thảo Hợp đồng hợp tác kinh doanh như quy định tại Mục 2 của Đề xuất dịch vụ này là 15,000,000VNĐ (Bằng chữ: Mười năm triệu Việt Nam Đồng).

– Thời hạn để hỗ trợ rà soát, hiệu chỉnh dự thảo hợp đồng theo ý kiến của đối tác kể từ sau bản dự thảo lần thứ nhất là 01 tháng kể từ ngày gửi bản dự thảo lần đầu.

Trong trường hợp, số giờ làm việc thực tế để hiệu chỉnh dự thảo hợp đồng lần đầu theo ý kiến của đối tác vượt quá 08 giờ làm việc, SB Law sẽ tính phí dịch vụ bổ sung dựa trên tổng số giờ làm việc thực tế của Luật sư chúng tôi theo yêu cầu của Quý Khách hàng, tương ứng với 3,400,000VNĐ/01 giờ làm việc thực tế. Hàng tuần, SB Law sẽ gửi báo cáo chi tiết nội dung thực hiện công việc và chi phí thực tế phát sinh. Chi phí tư vấn phát sinh sẽ đến hạn thanh toán trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu thanh toán của SB Law.

Cơ quan nào sẽ giải quyết khi người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết trong thời gian giam giữ?

Câu hỏi: Tôi là Luân. Qúy công ty cho tôi hỏi: trong thời gian giam giữ mà người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết thì cơ quan nào sẽ giải quyết và thủ tục thế nào?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Bên cạnh những quyền lợi, chế độ được pháp luật bảo đảm trong thời gian bị giam giữ, nếu trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết trong thời gian này sẽ được cơ sở giam giữ hỗ trợ một phần kinh phí khâm liệm, an táng.

Cụ thể, theo Điều 10 Nghị định 120/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 thì: “Khi người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết, kinh phí bảo đảm việc khâm liệm gồm: Tiền mua 01 quan tài bằng gỗ thường, 01 bộ quần áo dài và 01 bộ quần áo lót mới, 04 m2 vải liệm, hương, nến, cồn làm vệ sinh và khoản tiền chi phí khác tương đương 100 kg gạo tẻ loại trung bình. Cơ sở giam giữ tổ chức an táng cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết, bằng hình thức địa táng hoặc hỏa táng. Trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết mà thân nhân nhận thi hài về an táng thì được hỗ trợ kinh phí vận chuyển thi hài và chi phí an táng trị giá tương đương 200 kg gạo tẻ loại trung bình…”

Trước đó, nếu phát hiện người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam thì thủ trưởng cơ sở giam giữ phải tổ chức bảo vệ hiện trường, thông báo ngay cho Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có thẩm quyền để tiến hành xác định nguyên nhân chết; đồng thời, thông báo cho thân nhân, người đại diện hợp pháp của người chết. Đại diện cơ sở giam giữ phải chứng kiến việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Trường hợp người chết là người nước ngoài thì việc thông báo cho cơ quan lãnh sự và thân nhân, người đại diện hợp pháp của họ do cơ quan đang thụ lý vụ án thực hiện.

Khi Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đồng ý cho làm các thủ tục an táng người chết thì cơ sở giam giữ có trách nhiệm thông báo cho thân nhân của người chết. Trường hợp thân nhân người chết có văn bản yêu cầu thì bàn giao thi hài đó cho họ, trừ trường hợp có căn cứ cho rằng việc đó ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và vệ sinh môi trường.

Sau thời hạn 24 giờ kể từ khi thông báo mà thân nhân người chết không nhận thì cơ sở giam giữ có trách nhiệm tổ chức an táng. Tuy nhiên, nếu vì lý do khách quan mà thân nhân của người chết không nhận được thông báo hoặc không thể đến kịp thì sau đó họ có thể gửi đơn đề nghị được nhận tro cốt hoặc hài cốt sau khi an táng. Trong trường hợp này, thủ trưởng cơ sở giam giữ cần trao đổi với chính quyền địa phương để giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo an ninh, trật tự và vệ sinh môi trường.

Đối với người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam chết thì giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thỏa thuận quốc tế hoặc sự thỏa thuận trực tiếp về từng trường hợp cụ thể giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nước có người bị tạm giữ, tạm giam chết. Trường hợp chưa có điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế tương ứng hoặc giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nước có người bị tạm giữ, tạm giam chết không thoả thuận thống nhất được về giải quyết trường hợp cụ thể hoặc không xác định được quốc tịch của người chết thì giải quyết như đối với người Việt Nam bị tạm giữ, tạm giam chết.

Mặc khác, nếu người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết mà trước đó đã có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội hoặc đang được hưởng lương hưu thì chế độ tử tuất giải quyết theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

 

Đe dọa tung clip nóng để tống tiền sẽ bị xử lý ra sao?

Câu hỏi: Mình là X. Mình và bạn trai trong thời gian yêu nhau có quay lại những clip nóng, khi chia tay thì anh ta đem những clip đó ra để đe dọa mình và bắt mình phải đưa tiền nếu không sẽ công khai trên mạng xã hội. Bây giờ mình phải làm sao?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành, người thực hiện hành vi đe dọa sẽ tung đoạn clip hai bạn ân ái lên mạng xã hội sẽ dựa vào mức độ vi phạm sẽ xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về mức độ xử phạt hành chính, căn cứ theo Điểm c Khoản 2 điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP như sau:

“Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

c) Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản; …”.

Do người thực hiện hành vi đã dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc bạn phải đưa tiền, tài sản thì sẽ bị phạt từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Ngoài ra, nếu người thực hiện hành vi biết việc làm của mình sẽ vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý làm và dùng thủ đoạn để đe dọa, uy hiếp bạn nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, thỏa mãn yêu cầu của mình là có dấu hiệu pháp lý của tội danh Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điều 170 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, cụ thể:

“Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Như vậy, khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì mức hình phạt thấp nhất là 1 năm tù, cao nhất là 20 năm tù và hình phạt bổ sung phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tư vấn thủ tục xin trích lục sổ đỏ

Câu hỏi: Tôi là Tâm. Gia đình tôi có 1 miếng đất được cấp sổ đỏ năm 1993 nhưng hiện tại gia đình tôi lại làm mất sổ. Vậy quý công ty cho tôi hỏi tôi có xin trích lục sổ đỏ được không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 12 Thông tư 34/2014/TT – BTNMT quy định trình tự, thủ tục cung cấp dữ liệu đất đai:

“1. Việc nộp văn bản, phiếu yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai được thực hiện theo một trong các phương thức sau:

a) Nộp trực tiếp tại cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai;

b) Gửi qua đường công văn, fax, bưu điện;

c) Gửi qua thư điện tử hoặc qua cổng thông tin đất đai.

2. Cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai tiếp nhận, xử lý và thông báo nghĩa vụ tài chính (trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính) cho tổ chức, cá nhân. Trường hợp từ chối cung cấp dữ liệu thì phải nêu rõ lý do và trả lời cho tổ chức, cá nhân biết.

3. Sau khi tổ chức, cá nhân thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai thực hiện cung cấp dữ liệu đất đai theo yêu cầu.

4. Thời hạn cung cấp dữ liệu đất đai thực hiện theo quy định sau:

a) Trường hợp nhận được yêu cầu trước 15 giờ thì phải cung cấp ngay trong ngày; trường hợp nhận được yêu cầu sau 15 giờ thì cung cấp dữ liệu đất đai được thực hiện vào ngày làm việc tiếp theo;

b) Trường hợp yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai dưới hình thức tổng hợp thông tin thì thời hạn cung cấp dữ liệu đất đai được xác định theo thỏa thuận giữa cơ quan cung cấp dữ liệu đất đai và người có yêu cầu bằng hình thức hợp đồng”.

Theo đó, bạn có thể dựa vào quy định trên để xin trích lục sổ đỏ.

Bảo lưu quyền sở hữu là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ?

Câu hỏi: Tôi là Hường, ở Hà Nội. Qúy công ty cho tôi hỏi: Bảo lưu quyền sở hữu có phải là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Bộ luật dân sự năm 2005 mặc dù đã ghi nhận vấn đề bảo lưu quyền sở hữu tại Điều 461, tuy nhiên chỉ được hiểu dưới tư cách là một thỏa thuận trong hợp đồng mua trả chậm, trả dần. Còn trong Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS), bảo lưu quyền sở hữu còn được ghi nhận với tư cách là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Theo cách hiểu chung nhất, bảo lưu quyền sở hữu được hiểu là quy định bảo đảm quyền lợi của bên bán trong quan hệ hợp đồng mua bán. Theo đó, trong hợp đồng mua bán quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ.

Hiện nay, vấn đề bảo lưu quyền sở hữu được ghi nhận tại Điều 331 Bộ luật dân sự năm 2015:

“Điều 331. Bảo lưu quyền sở hữu

1. Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ.

2. Bảo lưu quyền sở hữu phải được lập thành văn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán.

3. Bảo lưu quyền sở hữu phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký”.

Khác với các biện pháp bảo đảm khác như: cầm cố, thế chấp, đặt cọc, kỹ quỹ, ký cược, bên bảo đảm phải giao cho bên nhận bảo đảm tài sản bảo đảm để bảo đảm nghĩa vụ được thực hiện, còn trong biện pháp bảo lưu quyền sở hữu, bên nhận vật lại là bên có nghĩa vụ phải thực hiện.

Dưới góc độ pháp lý, có thể xem xét bảo lưu quyền sở hữu dưới các nội dung sau:

Thứ nhất, về quyền sở hữu tài sản:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 331 BLDS năm 2015, khi xác lập quan hệ mua bán, mặc dù các bên đã thực hiện nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua, bên mua đã nhận vật nhưng quyền sở hữu vật vẫn thuộc về bên bán. Chỉ khi bên mua thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì bên bán mới thực hiện các thủ tục để chuyển quyền sở hữu cho bên mua. Nếu bên mua không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì bên bán vẫn có quyền sở hữu tài sản.

Thứ hai, về cơ sở xác lập biện pháp bảo lưu quyền sở hữu

Bản thân việc “bảo lưu quyền sở hữu” phải được các bên thỏa thuận và và thỏa thuận này phải “được lập thành văn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán”. Nếu không có thỏa thuận việc bảo lưu quyền sở hữu thì sẽ không có biện pháp bảo đảm.

Thứ ba, phạm vi áp dụng biện pháp bảo lưu quyền sở hữu

Theo quy định tại Điều 331 BLDS năm 2015, biện pháp bảo lưu quyền sở hữu chỉ được áp dụng trong hợp đồng mua bán. Tuy nhiên với việc BLDS đánh đồng trao đổi tài sản với mua bán tài sản nên cũng được áp dụng cho trao đổi tài sản. Cụ thể:  Khoản 4 Điều 455 BLDS năm 2015 quy định:

“mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về. Các quy định về hợp đồng mua bán từ Điều 430 đến Điều 439, từ Điều 441 đến Điều 449 và Điều 454 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản”.

Thứ tư, về hiệu lực đối kháng với người thứ ba

Bảo lưu quyền sở hữu có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký tài sản theo quy định tại Khoản 3 Điều 331 BLDS năm 2015. Trên thực tế, có thể có bên thứ ba có quyền lợi liên quan đến đối tượng của hợp đồng mua bán khi tài sản này đã được chuyển giao cho bên mua. Như vậy, bên bán phải lưu ý để là bên có quyền lợi đối với tài sản bảo đảm thì phải tiến hành đăng ký tài sản bảo đảm là đối tượng của hợp đồng mua bán này.

Thứ năm, về quyền và nghĩa vụ của bên mua tài sản

Điều 333 BLDS năm 2015 quy định bên mua tài sản có quyền

“1. Sử dụng tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu có hiệu lực.

2. Chịu rủi ro về tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Quy định này cho thấy bên mua tài sản là bên bảo đảm trong giao dịch bảo đảm bảo lưu quyền sở hữu tài sàn. Khi nhận được tài sản mua bán, bên mua tài sản có quyền sử dụng tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu có hiệu lực. Nếu việc khai thác, sử dụng tài sản mua bán làm hư hỏng, mất tài sản thì trong trường hợp bên mua không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì bên mua phải chịu rủi ro trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu. Bên mua phải có nghĩa vụ phải bồi thường các thiệt hại nếu xảy ra thiệt hại đối với tài sản mua bán, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận là bên mua sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với những rủi ro về tài sản mua bán đó.

Thứ sáu, về thời điểm chấm dứt biện pháp bảo đảm bảo lưu quyền sở hữu

Biện pháp bảo đảm bảo lưu quyền sở hữu chấm dứt nếu thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 334 BLDS 2015, cụ thể:

“1. Nghĩa vụ thanh toán cho bên bán được thực hiện xong.

2. Bên bán nhận lại tài sản bảo lưu quyền sở hữu.

3. Theo thỏa thuận của các bên”.

Muốn thành lập thành lập trung tâm ngoại ngữ có vốn đầu tư nước ngoài phải đáp ứng điều kiện gì?

Câu hỏi: Tôi là Anh, ở Hà Nội. Qúy công ty cho tôi hỏi: Hiện bên tôi đang muốn thành lập một trung tâm ngoại ngữ có vốn đầu tư nước ngoài. Vậy bên tôi phải đáp ứng những điều kiện gì?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định tại Khoản 6 Điều 2 Nghị định số 73/2012/NĐ-CP:

“Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng kiến thức ngoại ngữ, tin học, văn hoá, kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ”.

Do đó, việc thành lập trung tâm Ngoại ngữ có vốn đầu tư nước ngoài phải tuân thủ các điều kiện của pháp luật về việc thành lập cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn có vốn đầu tư nước ngoài, cụ thể:

Thứ nhất, điều kiện về vốn:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 28 Nghị định số 73/2012/NĐ-CP:

“Dự án đầu tư thành lập cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn phải có suất đầu tư ít nhất là 20 triệu đồng/học viên (không bao gồm các chi phí sử dụng đất). Tổng số vốn đầu tư ít nhất được tính toán căn cứ số lượng học viên quy đổi toàn phần thời gian tại thời điểm có dự kiến quy mô đào tạo cao nhất”.

Do đó, dự án đầu tư thành lập trung tâm ngoại ngữ có vốn đầu tư nước ngoài phải có suất đầu tư ít nhất là 20 triệu đồng/học viên (không bao gồm các chi phí sử dụng đất). Đồng thời, tổng số vốn đầu tư ít nhất được tính toán căn cứ số lượng học viên quy đổi toàn phần thời gian tại thời điểm có dự kiến quy mô đào tạo cao nhất.

Thứ hai, điều kiện về cơ sở vật chất:

Khoản 1 Điều 29 Nghị định số 73/2012/NĐ-CP quy định cơ sở vật chất của trung tâm Ngoại ngữ có vốn đầu tư nước ngoài phải bao gồm:

– Có phòng học phù hợp về ánh sáng, bàn ghế, thiết bị, đồ dùng giảng dạy;

– Có diện tích dùng cho học tập, giảng dạy đảm bảo ở mức bình quân ít nhất là 2,5 m2/người học đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn và 04 m2/người học đối với trung tâm dạy nghề;

– Có văn phòng của Ban Giám đốc, phòng giáo viên, thư viện và các phòng chức năng khác;

– Có thiết bị cần thiết phục vụ cho công tác đào tạo và quản lý.

Thứ ba, điều kiện về nhân sự/Giáo viên:

Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 31 Nghị định số 73/2012/NĐ-CP, giáo viên giảng dạy tại trung tâm ngoại ngữ có vốn đầu tư nước ngoài phải có trình độ cao đẳng hoặc tương đương, có ngành nghề đào tạo phù hợp với chuyên môn được phân công giảng dạy. Bên cạnh đó, tỷ lệ học viên/giáo viên quy đổi tối đa là 25 học viên/giáo viên.

Thứ tư, yêu cầu về chương trình đào tạo/giáo dục:

Chương trình giáo dục thực hiện tại cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài phải đáp ứng những điều kiện sau:

– Thể hiện mục tiêu giáo dục, không có nội dung gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng; không truyền bá tôn giáo, xuyên tạc lịch sử; không ảnh hưởng xấu đến văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và phải đảm bảo điều kiện liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo.

– Cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài được tổ chức giảng dạy:

+ Chương trình giáo dục của Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam;

+ Chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn của nước ngoài

Thứ 5, yêu cầu về đặt tên cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài

Khoản 1 Điều 22 Nghị định số 73/2012/NĐ-CP quy định:

“Đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, tên phải gồm các yếu tố cấu thành được sắp xếp theo trật tự sau đây: “Trung tâm giáo dục/đào tạo”, “Ngành hoặc nhóm ngành đào tạo chính” và tên riêng”.

Theo đó, trung tâm Ngoại ngữ có vốn đầu tư nước ngoài có thể đặt tên là: Trung tâm tiếng Anh ABC; Trung tâm đào tạo tiếng Nhật ABC; Trung tâm giáo dục tiếng Trung…

Thứ 6, yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ:

–  Văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam và tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam;

–  Văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống văn bằng, chứng chỉ của nước ngoài, tuân thủ quy định của pháp luật nước ngoài và được Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Việt Nam công nhận.

Thủ tục phát hành cổ phiếu ra công chúng mới nhất

Câu hỏi: Mình là Chương, ở Quảng Ninh. Qúy công ty cho tôi hỏi: Thủ tục phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn của các công ty cổ phần được quy định như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Thứ nhất, điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm:

– Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

– Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;

– Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

– Công ty đại chúng đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng phải cam kết đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường có tổ chức trong thời hạn một năm, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

Thứ hai, hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm:

– Giấy đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng;

– Bản cáo bạch theo mẫu kèm theo Báo cáo tài chính;

– Điều lệ công ty;

– Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được;

– Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có);

– Quyết định của Hội đồng quản trị công ty thông qua hồ sơ. Đối với việc chào bán cổ phiếu ra công chúng của tổ chức tín dụng, hồ sơ phải có văn bản chấp thuận của Ngân hàng nhà nước Việt Nam;

– Trường hợp một phần hoặc toàn bộ hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng được tổ chức, cá nhân có liên quan xác nhận thì tổ chức phát hành phải gửi văn bản xác nhận của tổ chức, cá nhân đó cho Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN);

– Tài liệu pháp lý liên quan đến quyền sử dụng đất, quyết định phê duyệt dự án hoặc ý kiến thẩm định chuyên môn đối với các dự án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán (nếu cần) và kế hoạch chi tiết về việc sử dụng vốn;

– Hợp đồng tư vấn hồ sơ chào bán cổ phiếu ra công chúng với công ty chứng khoán (trừ trường hợp tổ chức phát hành là công ty chứng khoán);

– Tài liệu báo cáo tình hình sử dụng vốn của đợt chào bán chứng khoán ra công chúng gần nhất đã đăng ký với UBCKNN (nếu có).

Thứ ba, thủ tục:

– Gửi Hồ sơ đăng ký chào bán cho UBCKNN trực tiếp tại bộ phận một cửa hoặc theo đường bưu điện gồm 01 bộ gốc và 05 bộ sao y bản chính, kèm theo file điện tử theo địa chỉ do UBCKNN quy định;

– Sửa đổi, bổ sung hồ sơ nếu phát hiện thông tin không chính xác hoặc bỏ sót nội dung quan trọng theo quy định phải có trong hồ sơ hoặc thấy cần thiết phải giải trình về vấn đề có thể gây hiểu nhầm hoặc theo yêu cầu của UBCKNN;

– Sau khi được chấp thuận về nguyên tắc, tổ chức phát hành gửi UBCKNN 06 bộ hồ sơ đã được chấp thuận trước khi UBCKNN cấp giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng.

Chế độ nghỉ hằng năm ở doanh nghiệp tư nhân quy định như thế nào?

Câu hỏi: Tôi là Vân. Tôi làm việc cho một doanh nghiệp tư nhân được hơn 3 năm. Tháng 1 hoặc tháng 2 vừa rồi công ty có cho nhân viên kí gia hạn tiếp hợp đồng. Trong thời gian làm việc tháng 9, tôi có nghỉ ốm mất hơn 1 tuần và được trừ vào số ngày phép, các tháng sau tôi cũng có nghỉ 1 đến 2 ngày có việc riêng, thì bộ phận kế toán cũng tính gộp vào là nghỉ phép. Nhưng đến cuối năm bộ phận kế toán thông báo là tôi chỉ được tính nghỉ phép có 8 ngày tính từ thời điểm ban giám đốc duyệt hợp đồng là từ tháng 4 tính đến cuối năm. Liệu công ty tôi làm thế có đúng theo quy định của pháp luật không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Bộ luật lao động năm 2012 đã quy định rất rõ về ngày nghỉ hàng năm, nghỉ việc riêng và nghỉ lễ, tết, nghỉ ốm đau. Quy định về những ngày nghỉ này đều có sự khác nhau do đó với dữ liệu bạn đưa ra công ty bạn tính ngày nghỉ phép năm theo quy tắc cộng gộp tất cả những ngày nghỉ của bạn như: ốm đau, nghỉ việc riêng là chưa chính xác. Tuy nhiên, để làm rõ hơn bạn vui lòng cung cấp giúp chúng tôi: hợp đồng lao động, nội quy lao động, các quyết định của công ty về vấn đề nghỉ hằng năm để chúng tôi nắm rõ và tư vấn cho bạn chính xác hơn. Bởi Khoản 2 Điều 111 Bộ luật Lao động năm 2012 có quy định như sau:

“…2. Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động …”.

Do đó, nếu như công ty bạn có quy định khác thì chúng tôi cần phải xem xét việc quy định như vậy đã đúng chưa mới có thể trao đổi, đảm bảo quyền lợi cho bạn đúng với quy định pháp luật.

Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ sở

Câu hỏi: Tôi là Hạnh. Mong quý công ty tư vấn giúp tôi trường hợp này:

Trong Biên bản làm việc ngày 02/03/2018 tại nhà Văn hóa thôn A gồm: Nguyên đơn là Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị Y; bị đơn là bà Hoàng Thị Z. Hội đồng hòa giải do Bí thư Chi bộ, Trưởng ban Mặt trận thôn chủ trì hội nghị. Nội dung hòa giải như sau:

Hiện tại 2 mảnh đất, mảnh ở trên đường số thửa 04 diện tích 3000m2; mảnh dưới đường số thửa 08 diện tích 3200m2. Hai thửa đất đều chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mảnh đất phía trên, trước kia là đất sử dụng của bố ông X nhưng không có giấy tờ gì, sau đó cho ông H (chồng bà Z) mượn đất để ở; mảnh phía trên đường của bà Hoa sau đó ủy quyền cho bà Y có giấy ủy quyền. Hiện tại cả hai mảnh đất đang được ông H và bà Z sử dụng. Kết quả hòa giải 2 bên thỏa thuận nhất trí:

– Ông H và bà Z trả lại thửa đất bên trên đường cho bà Y;

– Ông H và bà Z được thửa đất dưới đường và xin một lối đi thuộc thửa đất phía trên để lấy lối đi lại.

Phần chữ ký của nguyên đơn và bị đơn. Bên nguyên đơn đã ký tên ông X và bà Y nhưng bên bị đơn có viết là “Chữ ký gia đình ông H” và chỉ có chữ ký của bà Z. Trong Biên bản cũng không có dấu xác nhận gì.

Tôi là cháu ruột bà Z, bà tôi có 3 người con. Cho tôi hỏi việc thỏa thuận giữa hai bên này có cần sự đồng ý của 3 người con bà Z không? Việc thỏa thuận như vậy có đúng pháp luật không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Về thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại cơ sở:

Khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải”.

Như vậy, việc tranh chấp đất đai trong trường hợp này, hai bên gia đình không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tranh chấp để giải quyết. Ở đây, hai bên đã thực hiện hòa giải tại cơ sở. Tuy nhiên, qua việc bạn cung cấp thông tin thì việc giải quyết vấn đề này có một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, về thẩm quyền hòa giải tại cơ sở

Theo Điểm b Khoản 1 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định: “Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh”.

Căn cứ tại Biên bản làm việc ngày 02/03/2018 tại nhà Văn hóa thôn A thì trong hội đồng hòa giải không có mặt của Chủ tịch hay Phó chủ tịch UBND là chủ tịch Hội đồng. Như vậy, về thẩm quyền hòa giải là không đảm bảo quy định pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại cơ sở.

Thứ hai, về chữ ký của các bên tranh chấp và của Hội đồng có vấn đề sau:

Khoản 2 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ – CP quy định:

 “Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm có các nội dung: Thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải; thành phần tham dự hòa giải; tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu); ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận.

Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã”.

Trong trường hợp này, việc hòa giải đã được lập thành biên bản, có đầy đủ những nội dung. Tuy nhiên, như bạn cung cấp thông tin thì biên bản có ghi bị đơn đại diện là Bà Z, nhưng trong phần ký tên của các bên tranh chấp, bên nguyên đơn đã ký tên là ông X và bà Y; bên bị đơn lại được viết là “Chữ ký gia đình ông H” có chữ ký của cả bà Z. Trường hợp nếu ghi là “Chữ ký gia đình ông H” thì phải có đầy đủ chữ ký của những người trên 18 tuổi và có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ khẩu gia đình trong thời điểm có tranh chấp đó; nhưng đây chỉ có chữ ký của bà Z.

Hơn thế nữa, tại Khoản 2 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ – CP quy định:

“…Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải…” mà trong biên bản có ghi phần bị đơn chỉ có bà Z là đại diện bên tranh chấp chứ không ghi bên bị đơn là gia đình ông H và bà Z nên phần chữ ký trong biên bản không thể có chữ ký của gia đình ông H được.

Thứ ba, trong Biên bản hòa giải không có dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã

Theo quy định, biên bản hòa giải phải có dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết nhưng trong biên bản hòa giải này lại không có dấu này.

Do đó, từ những vấn đề trên của Biên bản hòa giải, có thể xác định Biên bản hòa giải này không đủ hiệu lực pháp lý. Vì vậy, những nội dung thỏa thuận trong biên bản hòa giải sẽ không được công nhận.

Nếu sau đó 2 bên vẫn có tranh chấp mà không tự hòa giải được thì 1 trong hai bên tranh chấp phải gửi Đơn đề nghị lên Ủy ban nhân dân cấp xã để xin hòa giải lại tranh chấp đất đai. Việc bạn muốn làm đơn yêu cầu lên Tòa án nhân dân để giải quyết thì chưa thể thực hiện được nếu chưa được hòa giải tại cơ sở.

Trường hợp nếu hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành, trường hợp này, cả hai bên không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất thì giải quyết cụ thể theo Khoản 2, 3 và 4 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 như sau:

“2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

…………………………

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành”.

Về vấn đề 03 người con của bà Z có quyền hay phải được sự đồng ý của họ trong việc thỏa thuận giải quyết giữa bà Z với ông X và bà Y hay không? 

Do cả 2 thửa đất trên chưa có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, việc mua bán đất không có giấy tờ mà chỉ thỏa thuận bằng miệng. Việc bà Hoa ủy quyền cho bà Y thửa đất phía trên đường cũng có giấy tờ nhưng không được công chứng hay chứng thực.  Nếu thửa đất đó đứng tên bởi bố mẹ thì quyền sử dụng và định đoạt thuộc về bố mẹ, không cần sự đồng ý của con cái. Nếu thửa đất đó được đăng ký quyền sử dụng đất theo hộ gia đình, tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”. Theo quy định này thì nếu đăng ký đất đai theo Hộ gia đình sử dụng đất thì con cái cũng có quyền và phải có sự đồng ý của con cái trên 18 tuổi và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Theo quy định tại Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định sở hữu chung của các thành viên trong gia đình như sau:

‘1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này”.

Tuy nhiên, thửa đất không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất. Từ biên bản hòa giải ngày 02/03/2018 đến nay, vấn đề tranh chấp mặc dù đã hòa giải nhưng vẫn chưa được giải quyết. Theo quy định tại Khoản 57 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ – CP“Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành”.

Khoản 5 Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định như sau:

Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Khoản 4 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ – CP quy định:

Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo”.

Hiện tại 2 bên vẫn chưa làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, 03 người con của bà Z không có quyền trong việc thỏa thuận, hòa giải của các bên tranh chấp, việc tranh chấp này chỉ căn cứ vào 2 bên tranh chấp đã sử dụng thửa đất đó.

Việc hoàn trả vốn của công ty TNHH 2 thành viên trở lên được thực hiện ra sao?

Câu hỏi: Tôi là là Long, ở Hải Dương. Theo quy định tại Điều 68 Luật doanh nghiệp 2014, công ty TNHH 2 thành viên có thể giảm vốn điều lệ bằng cách hoàn trả vốn góp cho thành viên của công ty theo tỷ lệ vốn góp của họ. Hiện giờ tôi đang có nhu cầu rút vốn của công ty nhưng không thuộc các trường hợp được quy định tại điều 52 thì tôi có thể yêu cầu công ty hoàn trả vốn cho tôi theo trường hợp quy định tại điều 68 được không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 68, Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định:

Điều 68. Thay đổi vốn điều lệ

1. Công ty có thể tăng vốn điều lệ trong các trường hợp sau đây:

a) Tăng vốn góp của thành viên;

b) Tiếp nhận vốn góp của thành viên mới.

2. Trường hợp tăng vốn góp của thành viên thì vốn góp thêm được phân chia cho các thành viên theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ công ty. Thành viên có thể chuyển nhượng quyền góp vốn của mình cho người khác theo quy định tại Điều 53 của Luật này. Thành viên phản đối quyết định tăng thêm vốn điều lệ có thể không góp thêm vốn. Trường hợp này, số vốn góp thêm của thành viên đó được chia cho các thành viên khác theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ công ty nếu các thành viên không có thỏa thuận khác.

3. Công ty có thể giảm vốn điều lệ bằng các hình thức sau đây:

a) Hoàn trả một phần vốn góp cho thành viên theo tỷ lệ vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho thành viên;

b) Công ty mua lại phần vốn góp của thành viên theo quy định tại Điều 52 của Luật này;

c) Vốn điều lệ không được các thành viên thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo quy định tại Điều 48 của Luật này.

4. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc tăng hoặc giảm vốn điều lệ, công ty phải thông báo bằng văn bản đến Cơ quan đăng ký kinh doanh. Thông báo phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên, địa chỉ trụ sở chính, mã số doanh nghiệp;

b) Vốn điều lệ; số vốn dự định tăng hoặc giảm;

c) Thời điểm, lý do và hình thức tăng hoặc giảm vốn;

d) Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Đối với trường hợp tăng vốn điều lệ, kèm theo thông báo phải có nghị quyết và biên bản họp của Hội đồng thành viên. Đối với trường hợp giảm vốn điều lệ, kèm theo thông báo phải có nghị quyết và biên bản họp của Hội đồng thành viên và báo cáo tài chính gần nhất. Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật thông tin về việc tăng hoặc giảm vốn điều lệ trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo”.

– Hình thức hoàn trả phần vốn góp cho các thành viên trong công ty theo tỷ lệ phần vốn góp của họ theo quy định tại điểm a, khoản 3 điều 68, luật doanh nghiệp 2014 được thực hiện khi công ty TNHH 2 thành viên trở lên đáp ứng đủ các điều kiện sau:

+ Công ty đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp

+ Công ty bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho thành viên

– Việc hoàn trả một phần vốn góp cho các thành viên được thực hiện đối với tất cả các thành viên, chỉ hoàn trả một phần vốn góp của các thành viên, khi công ty có nhu cầu giảm vốn điều lệ, không áp dụng đối với trường hợp khi chỉ có yêu cầu của một thành viên

Như vậy, trong trường hợp của bạn, bạn không thể yêu cầu công ty hoàn trả lại phần vốn của bạn trong công ty theo dưới hình thức theo quy định tại Điều 68, nếu muốn rút vốn, bạn có thể thực hiện thủ tục chuyển nhượng phần vốn góp.

Xử lý thế nào khi Chủ tịch Hội đồng quản trị không ký Nghị quyết Hội đồng quản trị?

Royalty-free 3d business clipart picture of a diverse group of business people of different colors including blue, purple, light blue, green, orange, brown, yellow and red, seated at a round conference table during a business meeting in an office.

Câu hỏi: Tôi là Khanh, ở Hà Nội. Hiện tại số lượng thành viên HĐQT Công ty tôi là 5 thành viên. Tôi muốn hỏi là hiện nay Công ty đang muốn miễn nhiệm và bổ nhiệm Tổng Giám đốc Công ty. Sau khi xin ý kiến các thành viên HĐQT thì có 3/5 đồng ý vấn đề này. Tuy vậy, 2 thành viên không đồng ý là chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc của Công ty. Như vậy, chủ tịch không ký vào Nghị quyết và Quyết định đó. Vậy cho tôi xin hỏi luật sư làm thế nào để Nghị quyết và Quyết định có hiệu lực?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Chủ tịch Hội đồng quản trị có các quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều 152 Luật Doanh nghiệp năm 2014:

“3. Chủ tịch Hội đồng quản trị có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Lập chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng quản trị;

b) Chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu phục vụ cuộc họp; triệu tập và chủ tọa cuộc họp Hội đồng quản trị;

c) Tổ chức việc thông qua nghị quyết của Hội đồng quản trị;

d) Giám sát quá trình tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị;

đ) Chủ tọa cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, cuộc họp Hội đồng quản trị;

e) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty”.

Như vậy việc ký Quyết định thông qua Nghị quyết của Hội đồng quản trị vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng quản trị. Hành vi không ký thông qua Nghị quyết do bỏ phiếu không tán thành của Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty bạn là không phù hợp với quy định hiện hành. Việc thực hiện quyền biểu quyết với tư cách là thành viên Hội đồng quản trị, còn ký Nghị quyết là quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Ngoài ra khoản 4 Điều 152 còn quy định về trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị vắng mặt hoặc không thể thực hiện được nhiệm vụ:

“4. Trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị vắng mặt hoặc không thể thực hiện được nhiệm vụ của mình thì ủy quyền bằng văn bản cho một thành viên khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng quản trị theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty. Trường hợp không có người được ủy quyền thì các thành viên còn lại bầu một người trong số các thành viên tạm thời giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị theo nguyên tắc đa số”.

Căn cứ theo quy định nêu trên, nếu Chủ tịch Hội đồng quản trị vẫn tiếp tục gây khó khăn, không thực hiện được nhiệm vụ của mình và không có người được ủy quyền thì các thành viên còn lại của Hội đồng quản trị bầu 1 trong số các thành viên tạm thời giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị theo nguyên tắc đa số để thực hiện nhiệm vụ ký Nghị quyết Hội đồng quản trị.