Đây là một trong những điều kiện để đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp, được quy định tại Nghị định số 40/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp vừa được ban hành ngày 12/3/2018.
Theo đó, tổ chức đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp phải đáp ứng 7 điều kiện:
– Là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật và chưa từng bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp.
– Có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên.
– Thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, chủ sở hữu đối với doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên, cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không bao gồm tổ chức hoặc cá nhân từng giữ một trong các chức vụ nêu trên tại doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định của Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp và Nghị định này.
– Ký quỹ tại một ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
– Có mẫu hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, quy tắc hoạt động, kế hoạch trả thưởng, chương trình đào tạo cơ bản rõ ràng, minh bạch và phù hợp với quy định của Nghị định này.
– Có hệ thống công nghệ thông tin quản lý mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp, trang thông tin điện tử để cung cấp thông tin về doanh nghiệp và hoạt động bán hàng đa cấp của doanh nghiệp.
– Có hệ thống thông tin liên lạc để tiếp nhận, giải quyết thắc mắc, khiếu nại của người tham gia bán hàng đa cấp.
Nghị định cũng nêu rõ các trường hợp chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp đó là: Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp hết hiệu lực mà không được gia hạn; Doanh nghiệp tự chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp; Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định cụ thể quản lý hoạt động bán hàng đa cấp tại địa phương, trong đó, doanh nghiệp bán hàng đa cấp được coi là có hoạt động bán hàng đa cấp tại địa phương nếu thuộc một trong các trường hợp: Doanh nghiệp có trụ sở chính, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện có thực hiện chức năng liên quan đến hoạt động bán hàng đa cấp tại địa phương; doanh nghiệp tổ chức hội nghị, hội thảo, đào tạo về bán hàng đa cấp tại địa phương; doanh nghiệp có người tham gia bán hàng đa cấp cư trú (thường trú hoặc tạm trú trong trường hợp không cư trú tại nơi thường trú) hoặc thực hiện hoạt động tiếp thị, bán hàng theo phương thức đa cấp tại địa phương…
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 02 tháng 5 năm 2018.
Trong chương trình luật sư doanh nghiệp, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch công ty luật SBLAW đã có bài trả lời phỏng vấn về bải bỏ Giấy phép con theo Luật đầu tư năm 2014:
Đây là quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số tại Nghị định số 98/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi ngày 21/03/2018 bởi Nghị định số 48/2018/NĐ-CP của Chính phủ.
Theo đó, phạt tiền từ 90 triệu – 100 triệu đồng đối với hành vi thông đồng với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật; tự gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi bảo hiểm, trừ trường hợp luật quy định khác; giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin để từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm… mà số tiền chiếm đoạt dưới 20 triệu đồng, hoặc gây thiệt hại dưới 50 triệu đồng hoặc chưa đến mức bị truy cứu hình sự.
Ngoài ra, đối với hành vi ép buộc các tổ chức, cá nhân mua bảo hiểm dưới mọi hình thức sẽ bị phạt tiền từ 40 triệu – 50 triệu đồng.
Riêng với hành vi triển khai các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe trước khi được Bộ Tài chính phê chuẩn sẽ chịu mức phạt cao hơn trước rất nhiều là 60 triệu – 70 triệu đồng, thay vì chỉ từ 10 triệu – 20 tiệu đồng như trước.
Mức phạt 60 triệu – 70 triệu đồng nêu trên cũng được áp dụng đối với hành vi triển khai quy tắc, điều khoản, biểu phí các sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới trước khi đăng ký và được Bộ Tài chấp thuận; Không tuân thủ quy tắc, điều khoản, biểu phí đã được Bộ Tài chính phê chuẩn…
Nghị định số 48/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/5/2018.
Trong chuyên mục làm đúng hiểu đúng kênh truyền hình quốc hội, luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW đã tư vấn về vấn đề trục lợi bảo hiểm và những hậu quả pháp lý:
Ngày 23/02/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 23/2018/NĐ-CP quy định về bảo hiểm cháy nổ bắt buộc. Theo đó:
Các cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ như nhà chung cư, khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ từ 5 tầng trở lên; nhà trẻ, trường mẫu giáo có từ 100 cháu trở lên; cửa hàng xăng dầu có từ 1 cột bơm trở lên… đều phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tại các doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm cháy, nổ.
Mức phí bảo hiểm được quy định đối với cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ (trừ cơ sở hạt nhân) có tổng số tiền bảo hiểm của các tài sản tại một địa điểm dưới 1.000 tỷ đồng: Mức phí bảo hiểm được xác định bằng số tiền bảo hiểm tối thiểu nhân tỷ lệ phí bảo hiểm. Căn cứ vào mức độ rủi ro của từng cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận tỷ lệ phí bảo hiểm không thấp hơn tỷ lệ phí bảo hiểm.
Trên cơ sở mức phí bảo hiểm quy định, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm có thể thỏa thuận tăng mức phí bảo hiểm áp dụng đối với từng cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ căn cứ vào mức độ rủi ro của từng cơ sở và theo quy định pháp luật.
Đối với cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ có tổng số tiền bảo hiểm của các tài sản tại một địa điểm từ 1.000 tỷ đồng trở lên và cơ sở hạt nhân: Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận mức phí bảo hiểm theo quy định pháp luật và trên cơ sở được doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm chấp thuận.
Nghị định cũng nêu rõ doanh nghiệp bảo hiểm có quyền từ chối bán bảo hiểm cháy, nổ nếu các cơ sở nhà cao tầng chưa hoặc không thực đầy đủ các quy định về phòng chống cháy nổ. Doanh nghiệp bảo hiểm cũng không có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp động đất, núi lửa phun hoặc những biến động khác của thiên nhiên. Thiệt hại do biến cố chính trị, an ninh gây ra, tài sản bị đốt cháy, tài sản mua bảo hiểm bị sét đánh trực tiếp, cháy nổ do cố ý gây ra…
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính có trách nhiệm xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc của doanh nghiệp bảo hiểm. Bộ Công an chịu trách nhiệm kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm quy định pháp luật về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc của các cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 4 năm 2018.
Dưới đây là video giới thiệu về Công ty Luật TNHH SB LAW. Mời quý vị đón xem:
Câu hỏi: Tôi là Nga. Tôi có mua mảnh đất của ông X từ năm 2015, do gia đình có việc nên đến nay tôi mới có điều kiện làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, nhưng ông X không đồng ý và không chịu làm thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất cho gia đình tôi. Bây giờ tôi phải làm thế nào?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Theo như thông tin mà bạn cung cấp, bạn và ông X đã giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào năm 2015. Theo quy định của Luật Đất đai hiện hành thì người sử dụng đất chỉ được thực hiện các quyền quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi đáp ứng được các điều kiện sau:
-Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
– Đất không có tranh chấp;
– Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
– Trong thời hạn sử dụng đất.
Ngoài ra, các bên còn phải tuân thủ quy định của pháp luật về hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo Điều 167 Luật Đất đai, hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này.
Vì thông tin bạn cung cấp chưa cụ thể về việc mảnh đất mà bạn nhận chuyển nhượng đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không? Nên chúng tôi chia ra 02 trường hợp để bạn tham khảo:
-Nếu mảnh đất mà bạn nhận chuyển nhượng của gia đình ông X đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên đã có chứng thực của UBND cấp xã thì bạn có quyền yêu cầu gia đình ông X có trách nhiệm cùng với bạn thực hiện thủ tục đăng ký sang tên quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, bởi giao dịch chuyển nhượng này đáp ứng điều kiện có hiệu lực theo quy định pháp luật. Nếu gia đình ông X không thực hiện trách nhiệm của mình thì bạn có quyền khởi kiện tại cơ quan có thẩm quyền để được bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
– Nếu mảnh đất nhận chuyển nhượng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hoặc đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hợp đồng chuyển nhượng giữa bạn và ông X không có công chứng, chứng thực thì giao dịch chuyển nhượng này không đáp ứng điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, bạn nên thỏa thuận, thương lượng với gia đình ông X để hai bên thực hiện thủ tục công chứng, chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
Trong chuyên mục Bạn và pháp luật kênh VOV1 – Đài tiếng nói Việt Nam, luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW có trao đổi với khán thính giả về chủ đề nguyên nhân tranh chấp đất đai trong cộng đồng dân cư. Mời các bạn đón xem tại đây:
Câu hỏi: Tôi và Công ty X đang dự định ký kết với nhau một hợp đồng dịch vụ quảng cáo. Qúy công ty có thể tư vấn giúp tôi hợp đồng này có thể dưới hình thức nào? Nội dung ra sao?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Hoạt động quảng cáo là những hoạt động được các doanh nghiệp sử dụng để quảng bá và mở rộng thị trường, uy tín của mình và tìm kiếm nguồn khách hàng. Để thực hiện tốt dịch vụ này các bên cần phải biết những điều về hợp đồng dịch vụ quảng cáo.
Hình thức hợp đồng:
Hợp đồng dịch vụ quảng cáo phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như thông qua bản mềm như file máy tính, hoặc fax, …
Nội dung cơ bản của hợp đồng bao gồm:
1. Thông tin các bên tham gia hợp đồng
Các bên tham gia hợp đồng bao gồm bên thuê quảng cáo và bên nhận dịch vụ quảng cáo. Các bên cung cấp đầy đủ thông tin của mình theo: Tên, địa chỉ, người đại diện (nếu là tổ chức), thông tin người đại diện, số tài khoản…
2. Nội dung công việc
Các bên ghi nhận cụ thể về nội dung dịch vụ quảng cáo; hình thức quảng cáo (bản tin, bài viết trên báo hay hình ảnh, video trên truyền hình); Phương thức quảng cáo; phương tiện quảng cáo;
3. Phí dịch vụ và thanh toán
– Các bên thảo thuận tổng phí dịch vụ bao gồm: Phí dịch vụ quảng cáo; Chi phí nguyên vật liệu; chi phí khác (nếu có).
– Thời hạn và phương thức thanh toán các bên thỏa thuận cụ thể.
4. Quyền và nghĩa vụ các bên
Dựa theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật quảng cáo các bên quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của các bên cho phù hợp.
5. Bồi thường và phạt vi phạm hợp đồng
Các bên quy định mức bồi thường, các trường hợp bồi thường; Mức phạt vi phạm và trường hợp phạt vi phạm. Lưu ý mức phạt vi phạm không quá 8% tổng giá trị hợp đồng.
6. Giải quyết tranh chấp
Các bên thỏa thuận về phương thức và cơ quan giải quyết tranh chấp.
7. Điều khoản khác
Các bên thỏa thuận các điều khoản khác nhưng không được trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.
Một số điều khoản khác như:
– Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của từng bên;
– Chấm dứt và thanh lý hợp đồng;
– Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng;
– Điều khoản chung và hướng dẫn thi hành.
Video giới thiệu về luật sư Nguyễn Thanh Hà chủ tịch công ty Luật SBLaw. Trong video luật sư Nguyễn Thanh Hà chia sẻ về kinh nghiệm hành nghề luật sư và quản trị công ty luật tại Việt Nam, cách thức chăm sóc khách hàng trong lĩnh vực tư vấn pháp lý, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư nước ngoài và sở hữu trí tuệ:
Câu hỏi: Tôi là Vũ. Gia đình tôi và gia đình kế bên giáp đất nhau nhưng do đất không thẳng hàng. Lô đất của gia đình tôi thì phía trước nhỏ phía sau lại rộng còn lô đất của gia đình kế bên thì ngược lại phía trước rộng phía sau lại nhỏ. Nay gia đình tôi có dự định xây nhà ở nên gia đình tôi và gia đình kế bên đã thỏa thuận đổi đất cho nhau cho thẳng hàng bằng miệng. Mong quý công ty tư vấn giúp gia đình tôi các thủ tục về đổi đất giữa hai hộ gia đình?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Theo thông tin bạn cung cấp thì hiện nay gia đình bạn đang có một lô đất phía trước nhỏ nhưng phía sau lại rộng, trong khi gia đình có mảnh đất tiếp giáp kế bên thì ngược lại. Với mong muốn đất của hai nhà đều được thẳng hàng, gia đình bạn và gia đình kế bên đã thỏa thuận về việc đổi một phần đất cho nhau bằng miệng.
Xét thấy, việc đổi một phần đất cho nhau bằng miệng chỉ là thỏa thuận giữa hai gia đình và không được pháp luật công nhận, đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro trong tranh chấp sau này. Bởi về mặt pháp lý, trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai lô đất này đều thể hiện diện tích, cũng như hình dáng, vị trí mảnh đất của hai gia đình trước khi thỏa thuận đổi đất. Tại thời điểm này, bạn cũng dự định xây dựng nhà ở trên phần đất cũ của mình và phần đất được đổi quyền sử dụng đất với gia đình bên kia, nên nếu sau này giữa các bên có xảy ra tranh chấp thì quyền lợi của bạn sẽ bị ảnh hưởng.
Đồng thời, mặc dù tại Điều 167 Luật đất đai năm 2013, Nhà nước vẫn công nhận việc chuyển đổi quyền sử dụng đất của người sử dụng đất, nhưng phải được được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Việc đổi một phần đất giữa các hộ gia đình, cá nhân bằng miệng, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì theo quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật đất đai năm 2013 được xác định là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy việc chuyển đổi một phần đất giữa bạn và gia đình bên kia bằng thỏa thuận miệng không được pháp luật công nhận, và không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Trong trường hợp này, để thực hiện việc chuyển đổi đất một cách hợp pháp, bạn và gia đình bên kia có mảnh đất tiếp giáp với mảnh đất của bạn thì bạn có thể thực hiện theo các phương án cụ thể sau:
Thứ nhất, hai gia đình có thể ký kết hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất để chuyển đổi quyền sử dụng đất đối với phần đất mà bạn và gia đình kế bên đang dự định đổi đất.
Tại khoản 1 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 có quy định về quyền của người sử dụng đất.
“Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất
1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này…”.
Căn cứ theo quy định trên, khi bạn là người sử dụng đất hợp pháp với mảnh đất này, thì bạn hoàn toàn được quyền thực hiện việc chuyển đổi quyền sử dụng đất với một phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện khi bạn đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013, theo đó phải đáp ứng điều kiện:
-Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
-Đất không có tranh chấp;
-Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án;
-Trong thời hạn sử dụng;
Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.
Ngoài ra, trường hợp phần đất thuộc mảnh đất mà hai gia đình đang dự định chuyển đổi cho nhau, để làm cho ranh giới đất thẳng hàng được xác định là thuộc loại đất nông nghiệp, thì việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất còn phải đáp ứng điều kiện được quy định tại Điều 190 Luật đất đai năm 2013, theo đó:
“Điều 190. Điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất, do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng xã, phường, thị trấn cho hộ gia đình, cá nhân khác để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển đổi quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ”.
Khi xác định phần đất dự định chuyển đổi quyền sử dụng đất của hai gia đình đều đáp ứng điều kiện để được chuyển đổi thì trong trường hợp này gia đình bạn và gia đình bên kia có thể thỏa thuận về việc đổi đất (chuyển đổi quyền sử dụng đất) cho nhau. Tuy nhiên, vì gia đình bạn và nhà có đất liền kề kế bên chỉ đổi cho nhau một phần diện tích đất trong lô đất của mình để hình dạng mảnh đất của hai nhà được thẳng hàng, cân đối. Trong trường hợp này, trước khi thực hiện việc chuyển đổi quyền sử dụng đất cho nhau, thì hai gia đình phải tiến hành thủ tục tách thửa đối với phần diện tích đất hai gia đình muốn chuyển đổi cho nhau.
Đối việc với tách thửa đất đối với phần diện tích đất nằm trong lô đất của mỗi nhà thì cần đảm bảo diện tích tối thiểu được phép tách thửa đất theo từng loại đất được quy định trong quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất.
Trong trường hợp, với phần diện tích đất thuộc lô đất của mỗi nhà mà gia đình bạn và gia đình kế bên đang dự định chuyển đổi không đảm bảo diện tích tối thiểu được phép tách thửa thì gia đình bạn vẫn có thể được phép tách thửa theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Nghị định 43/2014/NĐ – CP, cụ thể:
“Điều 29. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu
…………………………..
3. Trường hợp người sử dụng đất xin tách thửa đất thành thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu đồng thời với việc xin được hợp thửa đất đó với thửa đất khác liền kề để tạo thành thửa đất mới có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu được tách thửa thì được phép tách thửa đồng thời với việc hợp thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho thửa đất mới”.
Khi bạn và gia đình bên cạnh có đủ điều kiện để tách thửa đất theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh nơi có đất ban hành và quy định tại khoản 3 Điều 29 Luật đất đai năm 2013, thì bạn sẽ làm hồ sơ tách thửa kết hợp hợp thửa theo quy định tại khoản 11 Điều 9 Thông tư 24/2014/TT- BTNMT, theo đó gồm:
-Đơn đề nghị tách thửa hoặc hợp thửa theo mẫu số 11/ĐK;
-Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp
-Kèm theo giấy tờ tùy thân của người sử dụng đất.
Bạn sẽ nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất đai nơi có đất để thực hiện việc tách thửa/hợp thửa mảnh đất.
Sau khi tách thửa đất thì hai bên có thể cùng nhau ký hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất đối với phần đất cần chuyển đổi. Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất là một trong những loại hợp đồng về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó người sử dụng đất là bạn sẽ thực hiện việc chuyển đổi quyền sử dụng đất một phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình cho nhà kế bên, bên kia cũng thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận, mà ở đây là chuyển đổi quyền sử dụng một phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của họ cho gia đình bạn. Nội dung hợp đồng, cũng như những điều khoản trong hợp đồng sẽ do bạn và gia đình có mảnh đất kế bên cùng thỏa thuận.
Sau khi thực hiện việc ký kết hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất, hai bên sẽ thực hiện việc lập hồ sơ để thực hiện đăng ký biến động đất đai, chuyển quyền sang tên người sử dụng đất với phần đất chuyển đổi này. Về hồ sơ chuyển đổi quyền sử dụng đất, theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư 24/2014/TT- BTNMT được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 7 Thông tư 33/2017/TT – BTNMT:
-Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo mẫu 09/ĐK;
-Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất;
-Bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp
Bạn sẽ mang theo hồ sơ gồm những giấy tờ trên, cùng với giấy tờ tùy thân của bạn và gia đình kế bên đem đến nộp tại Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Phòng tài nguyên và môi trường nơi có đất để làm thủ tục chuyển quyền sang tên đối với phần đất được chuyển đổi quyền sử dụng đất, và hợp thửa với mảnh đất hiện tại của mình để hoàn tất việc thống nhất về quyền sử dụng đất đối với mảnh đất sau khi đổi một phần đất.
Thứ hai, gia đình bạn và gia đình kế bên cũng có thể ký các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho nhau để tặng cho nhau quyền sử dụng đất đối với những phần đất mà hai bên gia đình dự định đổi cho nhau để làm cho hình dạng mảnh đất của mỗi nhà đều cân đối, ranh giới được thẳng hàng.
Trong trường hợp này, việc tặng cho quyền sử dụng đất cũng cần đáp ứng các điều kiện được thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 được trích dẫn ở trên.
Đồng thời, vì gia đình bạn và gia đình kế bên đều thực hiện việc tặng cho quyền sử dụng đất đối với một phần diện tích đất của mảnh đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mỗi nhà, chứ không phải là tặng cho quyền sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất này. Do vậy, cũng giống như trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất thì bạn cũng phải làm thủ tục tách thửa đất đối với phần đất mà hai gia đình dự tặng cho cho nhau.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cũng là một trong những loại hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải được công chứng chứng thực thì mới hợp pháp, bởi theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 thì:
“Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất.
3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;
……………………………………..
d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã”.
Sau khi được ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có công chứng, chứng thực thì bạn và gia đình kia có thể thực hiện việc chuyển quyền sang tên tại cơ quan có thẩm quyền. Hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất do được tặng cho quyền sử dụng đất cũng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư 24/2014/TT – BTNMT, được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 7 Thông tư 33/2017/TT – BTNMT, cụ thể gồm:
-Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo mẫu số 09/ĐK;
-Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hai bản trong đó, một bản hợp đồng thể hiện việc bạn tặng cho một phần diện tích đất của mình cho bên kia; còn một bản hợp đồng thể hiện việc tặng cho quyền sử dụng đất của bên nhà bên kia cho bạn một phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của họ
-Bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cả hai phần đất dự định đổi.
Bạn sẽ nộp hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất do tặng cho quyền sử dụng đất đối với phần đất mà hai gia đình định tặng cho cho nhau cùng giấy tờ tùy thân của hai bên gia đình đến tại cơ quan đăng ký đất đai để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng.
Như vậy, tùy vào từng trường hợp, bạn và gia đình kế bên có thể thực hiện việc chuyển đổi quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất mà hai gia đình đang định đổi thông qua việc tách thửa, ký kết hợp đồng tặng cho/chuyển đổi quyền sử dụng đất và tiến hành thủ tục đăng ký sang tên, chuyển quyền tại cơ quan có thẩm quyền về đăng ký đất đai.
Trong chuyên mục đối thoại nóng của bản tin địa ốc 24h, luật sư Nguyễn Thanh Hà đã trao đổi về đất dịch vụ, nguyên nhân giao đất chậm và những giải pháp đặt ra. Mời quý vị đón xem:
Câu hỏi: Mình là Xuân. Bố mẹ mình chuẩn bị ly hôn. Xin hỏi: Khi bố mẹ ly hôn con cái có được chia tài sản không? Bây giờ mình và em mình đã tới tuổi trưởng thành. Hiện tại bố mẹ mình có 1 căn nhà và 3 ha đất trồng cây công nghiệp tích góp sau khi cưới nhau tới giờ.
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Khi ly hôn, về nguyên tắc, tài sản chung của vợ, chồng sẽ được chia đôi, còn tài sản riêng của ai thì người đó sở hữu. Việc giải quyết tài sản khi ly hôn chỉ đặt ra giữa vợ và chồng trừ trường hợp con cái có đóng góp trong việc tạo lập khối tài sản chung của hộ gia đình.
Theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Như vậy, căn cứ vào quy định trên, khi ly hôn, việc chia tài sản do bố mẹ tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.
Và tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi hoặc theo sự thỏa thuận của bố mẹ bạn tức là không bắt buộc phải chia cho các con.
Trong trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình mà tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, nếu con cái có tên trong sổ hộ khẩu thì sẽ có quyền sử dụng đất chung với bố mẹ bạn và khi bố mẹ ly hôn thì các bạn được xem xét giải quyết để chia tài sản.
Nhưng nếu tất cả tài sản chỉ đứng tên bố mẹ thì khi bố mẹ ly hôn, các con sẽ không được chia tài sản nếu bố mẹ bạn không thỏa thuận.
Sau khi ly hôn và phân chia tài sản cho hai bên bố mẹ bạn, các con không có quyền kiện đòi tài sản đó. Các bạn chỉ có quyền kiện đòi phân chia di sản thừa kế với tư cách là người thừa kế theo luật trong trường hợp sau này bố mẹ bạn qua đời mà không để lại di chúc.
Trong tiểu mục Hiểu đúng làm đúng kênh truyền hình Quốc hội, luật sư Nguyễn Thanh Hà đã tư vấn về hậu quả của hành vi cản trở người khác ly hôn. Mời quý vị đón xem:
Câu hỏi: Tôi là Hưởng, ở Phú Thọ. Tôi có dự định thành lập một công ty ở Hà Nội nhưng tôi không có hộ khẩu ở Hà Nội (hộ khẩu của tôi ở Phú Thọ). Xin hỏi: Tôi có thể đăng ký công ty ở Hà Nội không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện hành, cá nhân có quyền được thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam để kinh doanh các ngành nghề mà nhà nước không cấm.
Pháp luật không quy định việc bắt buộc về hộ khẩu, quốc tịch khi thành lập công ty tại Hà Nội. Do đó, cá nhân có hộ khẩu ngoài Hà Nội vẫn có quyền đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Hà Nội.
Tuy nhiên, cá nhân muốn thành lập công ty phải đáp ứng các điều kiện mà pháp luật quy định. Cụ thể:
Theo quy đinh tại khoản 1 Điều 18 Luật doanh nghiệp năm 2014 thì các tổ chức, cá nhân sau đây không được thành lập công ty:
– Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
-Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;
-Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
-Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
-Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
-Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.
Bên cạnh đó, cá nhân chỉ được thành lập doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh các ngành nghề và sản phẩm mà pháp luật không cấm. Cá nhân cũng phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
SB LAW là một trong những hãng luật uy tín tại Việt Nam, được các khách hàng trong và ngoài nước tín nhiệm và đánh giá rất cao. Mời quý vị đón xem:
Câu hỏi: Tôi là Lan Anh, ở Hà Nội. Tôi đang làm ở 1 công ty nước ngoài. Tôi muốn hỏi điều kiện thành lập chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là gì?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Căn cứ theo quy định tại Nghị định số 07/2016/NĐ-CP quy định chi tiết luật thương mại về văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại việt nam thì:
Thương nhân nước ngoài chỉ được cấp Giấy phép thành lập Chi nhánh khi đáp ứng các điều kiện sau:
Thương nhân nước ngoài được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc được pháp luật các quốc gia, vùng lãnh thổ này công nhận;
Thương nhân nước ngoài đã hoạt động ít nhất 05 năm, kể từ ngày được thành lập hoặc đăng ký;
Trong trường hợp Giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài có quy định thời hạn hoạt động thì thời hạn đó phải còn ít nhất là 01 năm tính từ ngày nộp hồ sơ;
Nội dung hoạt động của Chi nhánh phải phù hợp với cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và phù hợp với ngành nghề kinh doanh của thương nhân nước ngoài;
Trường hợp nội dung hoạt động của Chi nhánh không phù hợp với cam kết của Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài không thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, việc thành lập Chi nhánh phải được sự chấp thuận của Bộ trưởng Bộ quản lý chuyên ngành.
Các điều kiện tại điểm 4 và 5 nêu trên là các điều kiện mới phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên ký sau ngày Luật Thương mại 2005 được ban hành, các điều kiện này nhằm đảm bảo việc thành lập chi nhánh của thương nhân nước ngoài phải đảm bảo các điều kiện chung theo cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Hồ sơ thành lập chi nhánh của thương nhân nước ngoài bao gồm:
-Đơn đề nghị cấp Giấy phép thành lập Chi nhánh theo mẫu của Bộ Công Thương do đại diện có thẩm quyền của thương nhân nước ngoài ký;
– Bản sao Giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài;
– Văn bản của thương nhân nước ngoài cử/bổ nhiệm người đứng đầu Chi nhánh;
-Bản sao báo cáo tài chính có kiểm toán hoặc văn bản xác nhận tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế hoặc tài chính trong năm tài chính gần nhất hoặc giấy tờ có giá trị tương đương do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nơi thương nhân nước ngoài thành lập cấp hoặc xác nhận, chứng minh sự tồn tại và hoạt động của thương nhân nước ngoài trong năm tài chính gần nhất;
-Bản sao Điều lệ hoạt động của Chi nhánh;
-Bản sao công chứng hộ chiếu hoặc giấy Chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân của người đứng đầu Chi nhánh;
-Tài liệu về địa điểm dự kiến đặt trụ sở Chi nhánh bao gồm: Bản sao biên bản ghi nhớ hoặc thỏa thuận thuê địa điểm hoặc bản sao tài liệu chứng minh thương nhân có quyền khai thác, sử dụng địa điểm để đặt trụ sở Chi nhánh; Bản sao tài liệu về địa điểm dự kiến đặt trụ sở Chi nhánh cụ thể: Chi nhánh của thương nhân nước ngoài phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện an ninh, trật tự, an toàn vệ sinh lao động và các điều kiện khác theo quy định của pháp luật. Chi nhánh không được cho mượn, cho thuê lại trụ sở.
Thương nhân nước ngoài nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua đường bưu điện hoặc trực tuyến (nếu đủ điều kiện áp dụng) đến Cơ quan cấp Giấy phép (Bộ Công thương). Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Cơ quan cấp Giấy phép kiểm tra và yêu cầu bổ sung nếu hồ sơ chưa đầy đủ, hợp lệ. Việc yêu cầu bổ sung hồ sơ được thực hiện tối đa một lần trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ.
Thời hạn Giấy phép thành lập Chi nhánh:
Giấy phép thành lập Chi nhánh của thương nhân nước ngoài có thời hạn 05 năm nhưng không vượt quá thời hạn còn lại của Giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài trong trường hợp giấy tờ đó có quy định về thời hạn.
Điều kiện người đứng đầu Chi nhánh:
Người đứng đầu Chi nhánh phải chịu trách nhiệm trước thương nhân nước ngoài về hoạt động của mình và của Chi nhánh trong phạm vi được thương nhân nước ngoài ủy quyền.
Người đứng đầu Chi nhánh phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình trong trường hợp thực hiện các hoạt động ngoài phạm vi được thương nhân nước ngoài ủy quyền.
Người đứng đầu Chi nhánh phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đứng đầu Chi nhánh theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Việc ủy quyền này phải được sự đồng ý của thương nhân nước ngoài. Người đứng đầu Chi nhánh vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.
Trường hợp hết thời hạn ủy quyền theo quy định tại điểm 3 nêu trên người đứng đầu Chi nhánh chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì người được ủy quyền có quyền tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đứng đầu Chi nhánh trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đứng đầu Chi nhánh trở lại làm việc tại Chi nhánh hoặc cho đến khi thương nhân nước ngoài bổ nhiệm người khác làm người đứng đầu Chi nhánh.
Trường hợp người đứng đầu Chi nhánh không hiện diện tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đứng đầu Chi nhánh hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế mất năng lực hành vi dân sự thì thương nhân nước ngoài phải bổ nhiệm người khác làm người đứng đầu Chi nhánh.
Người đứng đầu Chi nhánh của thương nhân nước ngoài không được kiêm nhiệm các chức vụ sau:
-Người đứng đầu Văn phòng đại diện của một thương nhân nước ngoài khác;
-Người đứng đầu Văn phòng đại diện của cùng một thương nhân nước ngoài;
-Người đại diện theo pháp luật của tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định pháp luật Việt Nam.
Thẩm quyền cấp Giấy phép thành lập Chi nhánh:
Thương nhân nộp hồ sơ thành lập chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam tại Bộ Công Thương.
Công bố thông tin về Chi nhánh:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày cấp, cấp lại, điều chỉnh, gia hạn và thu hồi Giấy phép thành lập Chi nhánh, Cơ quan cấp Giấy phép có trách nhiệm công bố trên trang thông tin điện tử của mình các nội dung sau:
Tên, địa chỉ trụ sở của Chi nhánh;
Tên, địa chỉ trụ sở của thương nhân nước ngoài;
Người đứng đầu Chi nhánh;
Số, ngày cấp, thời hạn của Giấy phép thành lập Chi nhánh, Cơ quan cấp Giấy phép;
Nội dung hoạt động của Chi nhánh;
Ngày cấp lại, điều chỉnh, gia hạn và thu hồi Giấy phép thành lập Chi nhánh.
Trong chương trình Luật sư doanh nghiệp của kênh VITV, luật sư Nguyễn Thanh Hà, luật sư điều hành của S&B Law sẽ trả lời biên tập viên Thành Phương về các vấn đề xoay quanh việc thành lập doanh nghiêp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam:
Câu hỏi: Công ty tôi là TNHH 2 thành viên. Có 1 thành viên muốn chuyển đổi phần vốn góp ban đầu là xe ô tô thành tiền mặt với giá trị tương đương. Sự chuyển đổi được sự đồng ý của hội đồng Thành viên. Vậy sự chuyển đổi này có thực hiện được không? Nếu được thì cần những giấy tờ như thế nào?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Điều 37 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định:
“Điều 37. Định giá tài sản góp vốn
1. Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam.
2. Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hạp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.
Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.
3. Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận.
Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế”.
Căn cứ vào điều này và thông tin mà bạn cung cấp thì phần vốn góp ban đầu muốn chuyển đổi là xe ôtô nên việc chuyển đổi là tất yếu. Bên cạnh đó đã được sự dồng ý của hội đồng thành viên do đó việc chuyển đổi này hoàn toàn thực hiện được.
*Khi tiến hành định giá tài sản góp vốn cần các loại giấy tờ sau:
+ Biên bản giao nhận
+ Biên bản định giá tài sản
+ số CMTND/ hộ chiếu/ thẻ căn cước công dân của chủ sở hữu tài sản
+ Các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu xe
Việc chuyển đổi từ vốn góp là Xe ôtô sang vốn góp là tiền phải được thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh. Điều này tạo thuận lợi cho hoạt động quản lý của nhà nước đồng thời tránh những tranh chấp phát sinh sau này. Sau khi chuyển đổi bạn chỉ cần báo với cơ quan đăng ký kinh doanh để sửa đổi giấy đăng ký kinh doanh mà không phải đổi giấy phép kinh doanh mới.
Nhận lợi mời trả lời phỏng vấn của kênh truyền hình VITV, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch, luật sư điều hành SB Law đã trao đổi một số nội dung về ngành nghề đăng ký kinh doanh trong doanh nghiệp, những bất cập và phương hướng giải quyết. Mời quý vị đón xem:
Câu hỏi: Tôi có mua 1 mảnh đất của 1 sàn giao dịch bất động sản dưới hình thức trả góp trong vòng 24 tháng. Hiện tại tôi mới chỉ đóng 14 tháng nhưng vì lý do đi xuất khẩu lao động nên tôi muốn ủy quyền lại cho bố tôi thực hiện việc thanh toán các tháng còn lại và thực hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng đất. Giấy chứng nhận vẫn đứng tên tôi. Mong quý công ty tư vấn giúp việc này có thể thực hiện được không và cần thủ tục như thế nào?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Căn cứ vào các thông tin mà bạn cung cấp, bạn hoàn toàn có thể ủy quyền cho bố bạn thực hiện các thủ tục thay mình. Khoản 1 Điều 138 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:
“1. Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”.
Việc mua trả góp, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều là giao dịch dân sự. Vì vậy nếu không thể trực tiếp thực hiện, bạn có thể ủy quyền.
Thủ tục thực hiện:
– Lập văn bản ủy quyền (có thể là giấy ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền)
– Công chứng hoặc chứng thực văn bản ủy quyền
Ngoài ra sau khi có văn bản ủy quyền, bạn cần thông báo với sàn giao dịch và các bên có liên quan về văn bản ủy quyền cùng nội dung ủy quyền.
Video giới thiệu về luật sư Nguyễn Thanh Hà chủ tịch công ty Luật SBLaw. Trong video luật sư Nguyễn Thanh Hà chia sẻ về kinh nghiệm hành nghề luật sư và quản trị công ty luật tại Việt Nam, cách thức chăm sóc khách hàng trong lĩnh vực tư vấn pháp lý, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư nước ngoài và sở hữu trí tuệ:
Câu hỏi: Tôi là Loan. Tôi có mở cơ sở kinh doanh trái cây quy mô hộ gia đình, nhưng chưa đăng kí kinh doanh thì có bị xử phạt không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh thì hộ kinh doanh được quy định như sau:
“Điều 66. Hộ kinh doanh
1. Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
2. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương.
3. Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định”.
Do bạn kinh doanh trái cây tại địa điểm cố định cụ thể, không thuộc các trường hợp cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Như vậy bạn phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Nếu cơ sở của bạn sử dụng dưới 10 lao động phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh, còn nếu cơ sở của bạn sử dụng trên 10 lao động thì phải đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Căn cứ theo Điều 6 Nghị định số 124/2015/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định số 185/2013/NĐ-CP) về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì mức phạt vi phạm được quy định như sau:
“Điều 6. Hành vi vi phạm về hoạt động kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh không đúng địa điểm, trụ sở ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh mà không có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh theo quy định.
3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định.
4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tiếp tục hoạt động kinh doanh trong thời gian bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
5. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 4 Điều này trong trường hợp kinh doanh ngành, nghề thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện”.
Như vậy, trong trường hợp của bạn sẽ bị xử phạt như sau:
– Nếu kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh mà không có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh thì theo quy định sẽ bị xử phạt từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, trung bình thường thì bạn sẽ bị xử phạt 2.500.000 đồng.
Ngoài ra nếu bạn đã bị xử phạt kinh doanh không có giấy kinh doanh một lần mà còn tái phạm thì theo quy định trên đây bạn sẽ bị xử phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Trong chuyên mục Tư vấn pháp luật, của chương trình Luật sư của doanh nghiệp, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLaw đã giới thiệu về thủ tục thành lập hộ kinh doanh và các vấn đề liên quan: