Video: Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp

Mời Quý vị đón xem nội dung về việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp tại Việt Nam tại đây:

Video: Bàn về quyền tự do kinh doanh

Luật sư SBLAW bàn về quyền tự do kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư và luật doanh nghiêp. Mời Quý vị đón xem tại đây:

Video: Điều kiện kinh doanh theo Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp

Mời Quý vị đón xem chương trình Luật sư doanh nghiệp có phần trả lời của luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW về điều kiện kinh doanh theo Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp.

Mời Quý vị đón xem tại đây:

Video: Ai có quyền ban hành điều kiện kinh doanh?

Luật sư Nguyễn Thanh Hà cùng các chuyên gia pháp lý khác cùng bàn về thẩm quyền ban hành điều kiện kinh doanh, mời Quý vị đón xem tại đây:

Video: Luật doanh nghiệp và luật đầu tư sau 1 tháng triển khai

Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW đã có phần trao đổi với các chuyên gia pháp lý khác về vấn đề thực thi luật doanh nghiệp và luật đầu tư 2014, mời quý vị đón xem tại đây:

Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình

Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình
Vừa qua, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13

Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

– Khi xem xét, giải quyết yêu cầu có liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của đương sự và điều kiện kết hôn, điều kiện công nhận quan hệ hôn nhân quy định tại Điều 8 và Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình để quyết định.

– Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau: Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn; Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trường hợp có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến thời điểm hủy việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình. Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Trường hợp này, quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con từ thời điểm kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình.

– Trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên kết hôn vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình thì thực hiện như sau: Nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật; Nếu một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án bác yêu cầu của họ và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trường hợp quyết định theo hướng dẫn tại điểm a và điểm b khoản này thì Tòa án áp dụng quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.

– Khi xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân để xác định việc kết hôn có trái pháp luật hay không. Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu xử lý việc kết hôn trái pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự có hiệu lực tại thời điểm giải quyết. Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thuộc trường hợp cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc từ năm 1954, đã có vợ, có chồng ở miền Nam mà lấy vợ, lấy chồng ở miền Bắc thì vẫn xử lý theo Thông tư số 60/TATC ngày 22-02-1978 của Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết ra Bắc mà lấy vợ, lấy chồng khác”.

Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

– Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau: Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn; Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 59 và các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đình để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

– Khi giải quyết ly hôn nếu có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì Tòa án xem xét, giải quyết đồng thời với yêu cầu chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

– Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.

– Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia: (1) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng; (2) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn; (3) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp đcác bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự; (4) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

– Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.

– Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Thông tư liên tịch này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2016. Vụ việc hôn nhân và gia đình đã được Tòa án thụ lý trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực nhưng kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực mới xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng Thông tư liên tịch này để giải quyết. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thì không áp dụng hướng dẫn tại Thông tư liên tịch này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Nguồn : http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/van-ban-chinh-sach-moi.aspx?ItemID=7182

Video: Luật sư tư vấn bảo hộ bản quyền truyền hình

Ngày nay, việc vi phạm bản quyền truyền hình là hết sức phổ biến, vậy chế tài nào để có thể xử phạt vi phạm về vấn đề này?

Luật sư Nguyễn Tiến Hoà, giám đốc chi nhánh SBLAW Hồ Chí Minh trao đổi về vấn đề này trên kênh Let’s Viet, mời quý vị đón xem tại đây:

Hội nhập TPP: Việt Nam cần làm gì để phát triển chỉ dẫn địa lý?

Hội nhập TPP: Việt Nam cần làm gì để phát triển chỉ dẫn địa lý?

Trước thềm TPP, nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra với vấn đề sở hữu trí tuệ, trong đó vấn đề cơ chế và định hướng bảo hộ đối tượng chỉ dẫn địa lý một cách hợp lý đang là một thách thức.

Hội nhập TPP: Việt Nam cần làm gì để phát triển chỉ dẫn địa lý?

Hội nhập TPP đặt ra nhiều vấn đề với phát triển chỉ dẫn địa lý.

Thời gian gần đây chúng ta thường nhắc đến việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý thông qua những vụ việc cụ thể như việc chỉ dẫn địa lý “nước mắm Phú Quốc” được bảo hộ tại Liên minh Châu Âu (EU) hay Việt Nam đấu tranh giành lại chỉ dẫn địa lý “Cà phê Buôn Mê Thuột” ở Trung Quốc. Nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, trong đó vấn đề cơ chế và định hướng bảo hộ đối tượng sở hữu trí tuệ đặc thù này một cách hợp lý đang là câu hỏi và thách thức trước thềm Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Do tính chất quan trọng của sở hữu trí tuệ nên trong 30 chương của Hiệp định TPP, có hẳn một chương riêng cho vấn đề này, trong đó điều chỉnh các lĩnh vực về bằng sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền, bí mật thương mại, các hình thức khác của quyền sở hữu trí tuệ.

Nội dung liên quan đến việc bảo vệ những chỉ dẫn địa lý mới bao gồm cả những chỉ dẫn địa lý đã được công nhận hoặc được bảo vệ ở những hiệp định quốc tế khác. Việc bảo vệ này bao gồm cả việc phân định rõ mối quan hệ giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý.

Liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa và chỉ dẫn địa lý, Hiệp định TPP yêu cầu Việt Nam gia nhập Điều ước về Luật Nhãn hiệu. Điều ước đòi hỏi phải đơn giản hóa thủ tục, xác định quyền đối với nhãn hiệu, tức là thủ tục đăng ký nhãn hiệu.

Xét trên khía cạnh thương mại và vai trò của chỉ dẫn địa lý trong bối cảnh hội nhập, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Trần Việt Thanh cho rằng, nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, mà gần đây nhất là sự kiện Việt Nam tham gia TPP đòi hỏi Việt Nam cần có sự nhìn nhận và đánh giá nghiêm túc về vai trò và sự cần thiết của vấn đề bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Nó không chỉ là công cụ để bảo vệ giá trị của sản phẩm mà còn là động lực cho quá trình phát triển thương mại bền vững.

Xây dựng và phát triển chỉ dẫn địa lý đã trở thành định hướng, công cụ quan trọng được Chính phủ, Bộ ngành và địa phương lựa chọn để bảo hộ nông sản. Sau 15 năm kể từ ngày chỉ dẫn địa lý đầu tiên của Việt Nam được bảo hộ, đến nay Việt Nam đã có 43 chỉ dẫn địa lý. Đó là những kết quả của những định hướng, chính sách phù hợp của nhà nước, sự nỗ lực của các Bộ, ngành, địa phương và người dân. Nhiều địa phương đã xác định chỉ dẫn địa lý là một trong những hướng đi nhằm xây dựng và phát triển thương hiệu địa phương, phát triển sản xuất và thị trường nông sản. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta còn gặp nhiều khó khăn cả về thể chế chính sách và thực tiễn khai thác sản phẩm thương mại.

“Các mô hình quản lý chỉ dẫn địa lý còn gặp nhiều khó khăn, sản phẩm tham gia vào thị trường còn chưa nhiều, chưa có các dấu hiệu nhận diện chỉ dẫn đại lý làm cơ sở để người tiêu dùng nhận biết trên thị trường. Vì vậy, để chỉ dẫn địa lý thực sự trở thành công cụ đắc lực cho việc thúc đẩy phát triển sản xuất, thương mại sản phẩm, cần phải có những cơ chế, chính sách và giải pháp phù hợp, đồng thời cần một bước đột phá mới cả về phương pháp luận đến các vấn đề chính sách và thực tiễn”, Thứ trưởng Trần Việt Thanh nói.

Lưu ý những khía cạnh mà Việt Nam cần chú ý để việc phát triển các chỉ dẫn địa lý đạt được hiệu quả cao nhất trong bối cảnh ngày càng hội nhập sâu rộng, ông Lưu Đức Thanh, Trưởng phòng Chỉ dẫn địa lý, Cục Sở hữu Trí tuệ, Bộ KH&CN cho rằng, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đồng nghĩa với việc mở cửa thị trường, mức độ cạnh tranh của nông sản Việt Nam sẽ ngày càng tăng. Sản phẩm Việt Nam phải cạnh tranh ngay cả trên sân nhà đối với sản phẩm nhập khẩu. Vì thế, sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có thể trở thành một công cụ đặc thù, khác biệt trên thị trường nếu chúng ta làm tốt công tác quản lý và thương mại.

Theo ông Thanh, để phát huy được hiệu quả của chỉ dẫn địa lý trong bối cảnh hội nhập, Việt Nam cần phải tập trung vào một số giải pháp. Việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý không chỉ là bảo hộ tên gọi, mà quan trọng hơn là khai thác nó để phát triển thương mại, nâng cao giá trị sản phẩm. Do đó, cần tập trung tổ chức sản xuất, thúc đẩy hình thành các chuỗi giá trị sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, đưa sản phẩm ra thị trường để người tiêu dùng có thể tiếp cận đối với chỉ dẫn địa lý. Thứ hai, phải duy trì được chất lượng đặc thù của sản phẩm, gắn với các rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm, tạo sự đồng thuận của cộng đồng để duy trì sự ổn định và sự khác biệt của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý.

“Với mức độ bảo hộ cao của chỉ dẫn địa lý, nếu chúng ta không chủ động khai thác, sử dụng chỉ dẫn địa lý để bảo hộ cho sản phẩm nông sản thì đó sẽ là một thiệt thòi cho cộng đồng sản xuất, đồng thời có thể gây ra những hệ lụy như trường hợp một số tên gọi của Việt Nam bị đăng ký ở nước ngoài”, ông Lưu Đức Thanh nói.

Đồng quan điểm trên, bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Trưởng Phòng Pháp chế, Cục SHTT (Bộ KH&CN) cho biết, tham gia TPP, các nước yêu cầu phải bảo hộ chỉ dẫn địa lý, tức là tên gọi của các địa phương dùng để chỉ dẫn hàng hóa, những đặc sản của vùng miền, ví dụ như “Cà phê Buôn Ma Thuột” hay “Nước mắm Phú Quốc”. Họ muốn chúng phải được bảo hộ như nhãn hiệu, thậm chí là nhãn hiệu cá thể. Tuy nhiên, nếu như có ai đó đã đăng ký chỉ dẫn địa lý dưới dạng nhãn hiệu thì người đó sẽ có quyền chống lại các chỉ dẫn địa lý khác.

“Điển hình như khi Việt Nam bị mất nhãn hiệu “Cà phê Buôn Ma Thuột” vào tay một doanh nghiệp Trung Quốc, khi chiếu theo nguyên tắc này thì Việt Nam sẽ không đòi lại được”, bà Nguyễn Thị Thanh Hà nói.

 

Nguồn : http://canthostnews.vn/Default.aspx?tabid=82&NDID=48970&keyword=Hoi-nhap-TPP:-Viet-Nam-can-lam-gi-de-phat-trien-chi-dan-dia-ly-

Video: Quy định pháp luật về giải thưởng và vinh doanh doanh nghiệp

Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW có phần trao đổi với phóng viên truyền hình TTXVN về vấn đề Quy định pháp luật về giải thưởng và vinh doanh doanh nghiệp, mời Quý vị đón xem tại đây:

Audio: Luật căn cước công dân 2015

Mời Quý vị đón nghe Luật sư Nguyễn Thanh Hà trao đổi về những điểm mới của Luật căn cước công dân có hiệu lực từ 1/1/2016.