Quy định của pháp luật về nghĩa vụ của ngân hàng nơi ký quỹ

Câu hỏi: Trong trường hợp ngân hàng thu một khoản phí dịch vụ mà khi đó số tiền còn lại không đủ thanh toán cho người có quyền khi người có nghĩa vụ vi phạm thì giải quyết như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 35 Văn bản hợp nhất số 8019/ VBHN- BTP về giao dịch bảo đảm

“Nghĩa vụ của ngân hàng nơi ký quỹ:

1. Thanh toán theo yêu cầu của bên có quyền được ngân hàng thanh toán, bồi thường thiệt hại trong phạm vi giá trị tài sản ký quỹ, sau khi trừ chi phí dịch vụ ngân hàng.

2. Hoàn trả tài sản ký quỹ còn lại cho bên ký quỹ sau khi trừ chi phí dịch vụ ngân hàng và số tiền đã thanh toán theo yêu cầu của bên có quyền khi chấm dứt ký quỹ”.

Theo đó, ngân hàng sẽ thanh toán cho người có quyền khi người có nghĩa vụ vi phạm trong phạm vi tài sản ký quỹ sau khi trừ chi phí dịch vụ của ngân hàng nên việc ngân hàng thu khoản phí dịch vụ là hoàn toàn phù hợp. Số tiền còn lại trong ngân hàng không đủ để thanh toán cho người có quyền thì người có nghĩa vụ vi phạm sẽ phải trả thêm.

 

Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm

Câu hỏi: Tôi là Thanh, ở Hải Phòng. Qúy công ty cho tôi hỏi trong những trường hợp nào thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 299 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định các trường hợp mà bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm. Các trường hợp này bao gồm:

(1) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

(2) Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.

(3) Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.

Một văn bản luật cũng có thể quy định về trường hợp xử lý bảo đảm. Chẳng hạn, theo quy định tại Điều 90 Luật thi hành án dân sự năm 2008, được bổ sung, sửa đổi năm 2014 (Luật thi hành dân sự), trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án. Ngoài ra, các bên cũng có thể thỏa thuận về một số trường hợp xử lý tài sản bảo đảm khác, như khi bên vay vi phạm một nghĩa vụ nào đó của hợp đồng vay hay bên bảo đảm vi phạm một nghĩa vụ nào đó nêu trong hợp đồng bảo đảm.

Thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm là khi nào?

Câu hỏi: Mình là Quỳnh, ở Hà Nội. Qúy công ty cho mình hỏi: Thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm là khi nào? Cụ thể là mình thế chấp quyền sử dụng đất.

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP thì “Đăng ký biện pháp bảo đảm là việc cơ quan đăng ký ghi vào sổ đăng ký hoặc nhập vào cơ sở dữ liệu về việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm”.

Các biện pháp bảo đảm phải đăng ký gồm:

– Thế chấp quyền sử dụng đất;

– Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

– Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay;

– Thế chấp tàu biển.

Thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm được quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP như sau:

1. Trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tàu bay, tàu biển, thì thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm là thời điểm cơ quan đăng ký ghi nội dung đăng ký vào sổ đăng ký.

Trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tài sản là động sản khác, thì thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm là thời điểm nội dung đăng ký được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm …”.

Như vậy, trong trường hợp của bạn là bạn thế chấp quyền sử dụng đất thì thời điểm có hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm là thời điểm cơ quan đăng ký ghi nội dung đăng ký vào sổ đăng ký.

Các giao dịch bảo đảm nào phải đăng ký?

Câu hỏi: Mình là Hương, ở Hà Nội. Qúy công ty cho tôi hỏi: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì các giao dịch bảo đảm nào phải đăng ký?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Nhằm đảm bảo cho nghĩa vụ dân sự được thực hiện đúng và đầy đủ, các bên tự thỏa thuận hoặc pháp luật quy định người có nghĩa vụ thực hiện biện pháp bảo đảm nhất định. Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP thì các biện pháp bảo đảm sau đây phải đăng ký:

– Thế chấp quyền sử dụng đất;

– Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

– Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay;

– Thế chấp tàu biển.

Những người nào có quyền yêu cầu xóa đăng ký giao dịch bảo đảm

Câu hỏi: Ngày 30/12/2017 ông B đến ngân hàng đề nghị tôi xoá “đăng ký giao dịch bảo đảm” cho bà A. Sau khi nghe yêu cầu và trình bày của ông B, kiểm tra hồ sơ lưu giữ tôi thấy: Ngày 27/5/2011 bà A đăng ký giao dịch bảo đảm để vay 50 triệu đồng, sau khi hoàn thành tất cả các thủ tục theo quy định của NHNN và được NH cho vay 50 triệu. Sau 1 năm bà A trả hết nợ theo cam kết và nhận giấy tờ QSD Đất, từ đó đến nay không vay và cũng không yêu cầu xoá giao dịch bảo đảm. Đến đầu 2014 bà A bán nhà ở và mảnh đất trên cho ông B theo tài liệu ông B đưa ra là mảnh giấy viết tay của bà A bán cho ông B và chỉ có bà A ký tên, không có chữ ký của bên mua (Ông B) và không có chứng kiến, không có xác nhận của chính quyền địa phương. Theo ông B trình bày: tháng 10/2017 ông B lại bán nhà và mảnh đất đã mua của bà A cho gia đình ông C, ông C yêu cầu bên ông B phải hoàn tất thủ tục chuyển nhượng sang tên cho ông C, ông B lúc này đi chuyển tên không được do đang “đăng ký giao dịch bảo đảm” chưa được xoá. Tuy vây ông B không đưa ra giấy tờ mua bán giữa ông B và ông C. Hiện nay bà A đi khỏi địa phương không rõ địa chỉ. Vì vậy ông B mới đến NH đề nghị xoá “đăng ký giao dịch bảo đảm” cho bà A để ông B chuyển nhượng cho gia đình ông C. Như vậy có được không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ Điều 21 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP quy định các trường hợp xóa đăng ký giao dịch bảo đảm như sau:

1. Người yêu cầu đăng ký nộp hồ sơ xóa đăng ký biện pháp bảo đảm khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm;

b) Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp bảo đảm đã đăng ký bằng biện pháp bảo đảm khác;

c) Thay thế toàn bộ tài sản bảo đảm bằng tài sản khác;

d) Xử lý xong toàn bộ tài sản bảo đảm;

đ) Tài sản bảo đảm bị tiêu hủy, bị tổn thất toàn bộ; tài sản gắn liền với đất là tài sản bảo đảm bị phá dỡ, bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; …”.

Theo quy định trên, thì một trong những căn cứ để yêu cầu xóa giao dịch bảo đảm là chấm dứt nghĩa vụ nghĩa vụ được bảo đảm.

Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP quy định Người yêu cầu đăng ký, nghĩa vụ và trách nhiệm của người yêu cầu đăng ký như sau:

1. Người yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm đã đăng ký, sửa chữa sai sót, đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm, xóa đăng ký biện pháp bảo đảm bao gồm: Bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm; bên bán tài sản, bên mua tài sản trong trường hợp chuyển nhượng, mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu (sau đây gọi chung là bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm); Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán cho người khác vay tài sản nhưng không thực hiện việc đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc người đại diện hợp pháp của các chủ thể này. Trường hợp thay đổi bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm, thì bên bảo đảm mới, bên nhận bảo đảm mới là người yêu cầu đăng ký”.

Đối chiếu theo quy định trên, bà A đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại một ngân hàng, sau đó, nghĩa vụ được bảo đảm đã được chấm dứt, nhưng bà A không làm thủ tục xóa đăng ký giao dịch bảo đảm mà chuyển nhượng bằng hợp đồng viết tay cho ông B vào đầu năm 2014, sau đó, B chuyển nhượng cho C thông qua hợp đồng công chứng thì phát hiện quyền sử dụng đất đang được đăng ký giao dịch bảo đảm tại ngân hàng nên không thực hiện thủ tục sang tên cho C. Như vậy, trong trường hợp này, để xóa đăng ký giao dịch bảo đảm, phải do bà A yêu cầu xóa đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc bà A ủy quyền cho người khác thực hiện thủ tục này.

Theo như bạn nói, đầu năm 2014 A chuyển nhượng cho C thông qua giấy tờ viết tay. Bạn không nói rõ thời điểm chuyển nhượng, tuy nhiên theo quy định Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực; trường hợp hợp đồng của B và A là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay, không có công chứng, chứng thực do đó hợp đồng này sẽ bị vô hiệu theo Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015, do đó không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, trong trường hợp này, B không phải là chủ sở hữu.

Luật sư nội bộ cho doanh nghiệp

Câu hỏi: Do nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh, công ty tôi muốn tìm một công ty Luật chuyên nghiệp tư vấn pháp luật thường xuyên cho công ty tôi. Vui lòng báo giá.

Luật sư tư vấn:

Trước hết, Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Quý Công ty (sau đây gọi là “Khách hàng”) đã quan tâm tới dịch vụ của SB Law. Chúng tôi hiểu tằng, Khách hàng đang có nhu cầu tìm kiếm một Công ty Luật chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên. Vì vậy, Chúng tôi hân hạnh đệ trình đến Quý Khách hàng Đề xuất Dịch vụ Tư vấn Pháp luật Thường xuyên phác thảo phạm vi dịch vụ cũng như chi phí và các điều khoản cung cấp dịch vụ để Quý khách hàng xem xét và cân nhắc.

  1. GIỚI THIỆU DỊCH VỤ TƯ VẤN PHÁP LUẬT THƯỜNG XUYÊN CỦA SB LAW

1.1.      Phạm vi dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên

Trong phạm vi của Đề xuất Dịch vụ này, dịch vụ của chúng tôi sẽ bao gồm:

– Cập nhật cho Khách hàng các văn bản pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp và các luật liên quan khác. SB Law sẽ gửi Bản tin pháp luật tóm tắt nội dung mới nhất của văn bản pháp luật liên quan cho Khách hàng sau khi văn bản được ban hành;

– Tiến hành giải thích (nếu cần thiết) các nội dung liên quan đến Bản tin pháp luật theo yêu cầu của Khách hàng;

– Tư vấn các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của Khách hàng;

– Chuẩn bị các Biên bản và/hoặc các Nghị quyết liên quan đến cuộc họp các Giám đốc, các thông báo,chấp thuận và các văn bản ủy quyền cho Khách hàng;

– Dự thảo các văn bản nghị quyết của Ban giám đốc và các văn bản liên quan về việc thay đổi các Giám đốc, thư ký và địa chỉ công ty;

– Rà soát và/hoặc dự thảo các công văn trao đổi giữa Khách hàng với đối tác, khách hàng và cơ quan chức năng;

– Rà soát và/hoặc dự thảo Hợp đồng dịch vụ, Hợp đồng lao động, Hợp đồng thuê, Thư cảnh cáo….giữa Khách hàng và các Bên liên quan khác;

– Dịch thuật các văn bản từ tiếng Anh sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng Anh;

1.2.      Phương thức cung cấp dịch vụ:

Mối quan hệ công việc giữa SB LAW và Khách hàng dựa vào cơ sở là SB LAW sẽ trở thành đơn vị cung cấp dịch vụ pháp lý cho Khách hàng và sự trao đổi giữa các bên sẽ được thực hiện thông qua một hoặc nhiều hình thức sau:

  • Email;
  • Điện thoại và/hoặc fax;
  • Họp trực tiếp;

Cả SB LAW và Khách hàng cùng đồng ý rằng việc cung cấp dịch vụ của SB LAW không tạo lập mối quan hệ lao động giữa Chuyên viên tư vấn hoặc Luật sư do SB LAW giao thực hiện nhiệm vụ (sau đây gọi tắt là “Tư vấn viên”) và Khách hàng. Tư vấn viên không có quyền được nhận các quyền lợi của Người lao động, bao gồm nhưng không giới hạn bởi, bảo hiểm y tế và tai nạn, bảo hiểm nhân thọ, nghỉ ốm và/hoặc nghỉ phép. Số giờ làm việc cần thiết của Tư vấn viên với Khách hàng được quyết định bởi SB LAW nhưng vẫn đảm bảo thời giờ cần thiết để thực hiện các nghĩa vụ của SB LAW theo yêu cầu của Khách hàng.

Thời gian làm việc của SB Law cho Khách hàng bao gồm nhưng không giới hạn ở việc trao đổi qua điện thoại, công văn, thư điện tử, họp, phân tích và nghiên cứu quy định pháp luật, rà soát và soạn thảo văn bản/tài liệu/hợp đồng, thuyết trình, gặp gỡ, và đi lại và thời gian làm việc sẽ được tính phí. Khách hàng sẽ không bị tính phí cho những cuộc điện thoại không thường xuyên kéo dài trong tối đa đến 10 phút. Các cuộc điện thoại trên 10 phút sẽ bị tính phí.

Tất cả các cuộc họp sẽ được lên lịch hẹn trước bởi SB LAW và Khách hàng sẽ thực hiện theo lịch này. Trong trường hợp cần hủy lịch hẹn, Bên yêu cầu hủy cần thông báo trước cho bên còn lại ít nhất 10 giờ trước khi diễn ra cuộc họp. Thời gian hẹn gặp bị hủy không được báo trước sẽ vẫn bị tính phí cho Khách hàng tùy theo tính chất nội dung vụ việc mà hai bên dự kiến trao đổi.

Khách hàng hiểu rằng SB LAW là một công ty luật có giao dịch với nhiều khách hàng khác nhau, vì vậy Khách hàng cần cung cấp thông báo hợp lý, công bằng, và thực tế cho SB LAW về tất cả các yêu cầu công việc. Trong trường hợp có các yêu cầu cung cấp các ý kiến tư vấn pháp luật ở tình trạng khẩn cấp, SB LAW sẽ sắp xếp thời gian hợp lý để ưu tiên phục vụ yêu cầu của Khách hàng. Tuy nhiên, để đảm bảo chất lượng dịch vụ được cung cấp, SB LAW sẽ cần có thời gian hợp lý để thu thập, trao đổi các chi tiết cần thiết và các nghiên cứu pháp lý cho việc thực hiện công việc để đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của Khách hàng với chất lượng tối ưu.

1.3.      Thời gian làm việc tiêu chuẩn và Phí dịch vụ tư vấn:

Thông qua thảo luận sơ bộ, SB Law sẽ đưa ra số giờ làm việc mỗi tháng (sau đây gọi là “Thời gian làm việc tiêu chuẩn”) phù hợp với hoạt động kinh doanh của Khách hàng.

SB LAW đảm bảo rằng các Tư vấn viên sẵn sàng cung cấp dịch vụ trong thời giờ làm việc thông thường (từ Thứ hai đến Thứ sáu, 8:30 giờ sáng đến 6:00 chiều. Các ngày nghỉ lễ và ngày cuối tuần không được tính vào thời gian làm việc bình thường). Thời gian cung cấp dịch vụ cho Khách hàng nằm ngoài thời gian làm việc thông thường sẽ được tính gấp đôi. Trong trường hợp Thời gian làm việc tiêu chuẩn của một tháng không được sử dụng hết, thời gian này sẽ được tự động chuyển vào thời gian chuẩn của tháng sau. Tuy nhiên, không có trường hợp nào mà thời gian làm việc của một tháng vượt quá 180% Thời gian làm việc tiêu chuẩn. Hiện tại, SB LAW cung cấp các gói dịch vụ như sau:

Gói Dịch vụ Giờ làm việc tiêu chuẩn/01 tháng (giờ) Phí tư vấn (VNĐ)
Gói cơ bản 05 8.000.000
Gói tiêu chuẩn 10 14.0000.000
Gói cao cấp 15 20.000.000

Thời gian làm việc thực tế nằm ngoài phạm vi Dịch vụ Tư vấn pháp luật thường xuyên được quy định ở trên hoặc vượt quá Thời gian làm việc tiêu chuẩn sẽ được đàm phán riêng và được tính phí dựa trên số giờ tiêu chuẩn (5,672,000VNĐ/01 giờ làm việc) theo danh mục dịch vụ với các khoản thanh toán đến hạn.

1.4       Thanh toán

Hóa đơn của SB LAW sẽ được gửi một tuần trước khi bắt đầu tháng dịch vụ tiếp theo. Các khoản thanh toán cần được thực hiện trong thời gian năm (03) ngày làm việc trước khi bắt đầu mỗi dịch vụ. Các khoản phí đã thanh toán sẽ không được hoàn trả.

Nếu khối lượng công việc được thực hiện bởi SB Law vượt quá Thời gian làm việc tiêu chuẩn mỗi tháng, SB Law sẽ thông báo và đề nghị Khách hàng xác nhận về các khoản phí phát sinh thêm do thêm giờ làm việc (giờ làm việc thực tế vượt quá giờ làm việc tiêu chuẩn). Khoản chi phí phát sinh sẽ được tự động chuyển vào phí dịch vụ tháng tiếp theo.

Trường hợp Khách hàng đề nghị SB LAW thực hiện những công việc cụ thể, phức tạp hoặc tham gia sâu vào thủ tục pháp lý đòi hỏi thời gian và công sức vượt quá giới hạn thời gian làm việc tiêu chuẩn của Hợp đồng này, SB LAW sẽ thông báo để Khách hàng lựa chọn một trong các cách sau (1) hoặc SB LAW sẽ thực hiện công việc này theo Hợp đồng Tư vấn Thường xuyên; (2) hoặc SB LAW và Khách hàng sẽ ký kết một hợp đồng riêng biệt để thực hiện công việc đó.

Chúng tôi sẽ xuất báo cáo tổng kết dịch vụ hàng tháng. Mỗi báo cáo sẽ bao gồm các chi phí dịch vụ và các khoản phí liên quan đến việc cung cấp dịch vụ như phí bưu điện, điện thoại, photocopy, giao nhận, thao tác máy tính, giờ làm thêm đối với các trường hợp yêu cầu gấp, lệ phí nhà nước, dịch vụ tin nhắn, chi phí ăn ở, đi lại của Tư vấn viên ngoài Hà Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh. Các chi phí phát sinh ngoài khoản phí tư vấn pháp luật thường xuyên được thể hiện trong báo cáo cần được thanh toán trong thời gian mười (10) ngày kể từ ngày thông báo. Trong trường hợp chậm thanh toán mười (10) ngày so với ngày đến hạn thanh toán, SB LAW sẽ tùy ý lựa chọn tạm ngừng cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật thường xuyên và tính lãi suất chậm trả theo tỉ lệ 1,5% mỗi tháng cho khoản chậm thanh toán.

1.5        Thời hạn dịch vụ:

Thời hạn Dịch vụ sẽ là 06 (sáu) tháng kể từ ngày Các Bên ký Hợp đồng Dịch vụ Tư vấn Pháp luật. Trong vòng 01 (một) tháng trước khi thời hạn này kết thúc, nếu không có Bên nào thông báo cho Bên còn lại bằng văn bản, thời hạn dịch vụ sẽ tự động được gia hạnh 06 (sáu) tháng tính từ ngày hết hạn dịch vụ.

QUY ĐỊNH MỚI VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA CỦA TỔ CHỨC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Ngày 15/1/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 09/2018/NĐ-CP quy đinh chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (“Nghị định 09”).

Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành và thay thế Nghị định 23/2007/NĐ-CP (“Nghị định 23”). Dưới đây là một số điểm mới đáng chú ý của Nghị định 09:

1. GỠ BỎ YÊU CẦU PHẢI XIN CẤP PHÉP QUYỀN XUẤT KHẨU, QUYỀN NHẬP KHẨU, QUYỀN PHÂN PHỐI BÁN BUÔN Trừ trường hợp thực hiện quyền nhập khẩu, quyền phân phối bán buôn hàng hóa là dầu mỡ bôi trơn theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 9 của Nghị định 09, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ không phải xin cấp giấy phép kinh doanh (“GPKD”) khi thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, quyền phân phối bán buôn.

2. MỞ RỘNG ĐỐI TƯỢNG TỔ CHỨC PHẢI XIN CẤP GPKD VÀ GIẤY PHÉP LẬP CƠ SỞ BÁN LẺ (“GPLCSBL”), ĐỐI TƯỢNG HÀNG HÓA, DỊCH VỤ ĐƯỢC CẤP GPKD Nghị định 09 mở rộng đối tượng được cấp GPKD là nhà đầu tư nước ngoài không thuộc nước, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hàng hóa, dịch vụ được cấp GPKD cho hàng hóa, dịch vụ chưa được cam kết trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ứng với mỗi trường hợp trên, nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện, tiêu chí nhất định. Thời hạn kinh doanh đối với các trường hợp này là 05 năm.

Ngoài ra, bên cạnh “tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, Nghị định 09 quy định các tổ chức kinh tế thuộc trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư 2014 cũng phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục cấp GPKD, GPLCSBL nếu thuộc trường hợp phải xin cấp các giấy phép này theo quy định tại Nghị định 09, cụ thể đó là các tổ chức:

 Có tổ chức kinh tế quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 (tức tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh) nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên (điểm b khoản 1 Điều 23);

 Có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế quy định tại điểm b khoản 1 Điều 23 nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên (điểm c khoản 1 Điều 23).

Tổ chức kinh tế có cơ sở bán lẻ tại Việt Nam, sau khi nhận vốn góp trở thành tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế thuộc trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư, cũng phải làm thủ tục cấp GPKD, GPLCSBL.

3. CHUYỂN THẨM QUYỀN CẤP GIẤY PHÉP SANG SỞ CÔNG THƯƠNG

Theo Nghị định 09, cơ quan cấp GPKD, GPLCSBL là Sở Công thương thay vì UBND tỉnh như quy định của Nghị định 23. Đối với một số trường hợp cấp GPKD, Sở Công thương phải lấy ý kiến của Bộ Công thương, bộ quản lý ngành trước khi cấp. Đối với GPLCSBL, trong mọi trường hợp, Sở Công thương đều phải lấy ý kiến Bộ Công thương trước khi cấp, điều chỉnh.

4. MỞ RỘNG PHẠM VI THỰC HIỆN QUYỀN XUẤT KHẨU

Bên cạnh hàng hóa mua tại Việt Nam, hàng hóa nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, Nghị định 09 cho phép tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu hàng hóa do tổ chức kinh tế đó đặt gia công tại Việt Nam khi đáp ứng những điều kiện nhất định.

5. LẬP CƠ SỞ BÁN LẺ THỨ NHẤT CŨNG PHẢI XIN GIẤY PHÉP

Khác với Nghị định 23, Nghị định 09 quy định dù là cơ sở bán lẻ thứ nhất, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vẫn phải xin cấp giấy phép và phải đáp ứng được những điều kiện lập cơ sở bán lẻ. Nếu cơ sở bán lẻ thứ nhất này cùng tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương với trụ sở chính, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có quyền đề nghị cấp GPKD đồng thời với cấp GPLCSBL thứ nhất. Đối với cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất, điều kiện để không phải thực hiện kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) theo Nghị định 09 là cơ sở bán lẻ đó có diện tích dưới 500m2 , được lập trong trung tâm thương mại và không thuộc loại hình cửa hàng tiện lợi hay siêu thị mini.

6. THAY ĐỔI THỜI HẠN BÁO CÁO VÀ RÚT GỌN CHỈ CÒN MỘT MẪU BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG

Theo Nghị định 09, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải báo cáo định kỳ hàng năm về tình hình hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa theo Mẫu số 13 tại Phụ lục kèm theo Nghị định trước ngày 31 tháng 01 (trước đây, hạn báo cáo là 30 tháng 1 và có 3 mẫu báo cáo riêng biệt).

7. BỔ SUNG QUYỀN TẠM NGỪNG HOẠT ĐỘNG

Theo quy định tại Điều 44 Nghị định 09, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được tạm ngừng hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa trong thời hạn không quá 12 tháng với điều kiện phải tuân thủ quy định của pháp luật về tạm ngừng hoạt động kinh doanh và trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có Giấy xác nhận tạm ngừng hoạt động/tiếp tục hoạt động trước thời hạn của cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gửi bản sao giấy xác nhận này cho Sở Công thương./.

Thời hạn để làm thủ tục sang tên khi mua bán nhà đất là bao lâu?

Hiện nay, có khá nhiều trường hợp đã mua nhà đất nhưng lại không làm thủ tục sang tên hay phải rất lâu sau đó mới làm thủ tục này. Vậy hiện nay có văn bản nào quy định vấn đề trên không? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này:

Khoản 4 và khoản 6 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 có quy định:

“4. Đăng ký biến động được thực hiện đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đã đăng ký mà có thay đổi sau đây:

a) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất;

b) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được phép đổi tên;

………………………………………………………………………………………….

h) Chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của vợ hoặc của chồng thành quyền sử dụng đất chung, quyền sở hữu tài sản chung của vợ và chồng;

i) Chia tách quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của tổ chức hoặc của hộ gia đình hoặc của vợ và chồng hoặc của nhóm người sử dụng đất chung, nhóm chủ sở hữu tài sản chung gắn liền với đất;

k) Thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai, quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất phù hợp với pháp luật;

l) Xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề;

…………………………………………………………………………………………….

6. Các trường hợp đăng ký biến động quy định tại các điểm a, b, h, i, k và l khoản 4 Điều này thì trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày có biến động, người sử dụng đất phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động; trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất thì thời hạn đăng ký biến động được tính từ ngày phân chia xong quyền sử dụng đất là di sản thừa kế…”.

Như vậy, căn cứ theo quy định trên thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực, người mua phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động.

Nếu sau 30 ngày, người mua mới thực hiện thủ tục đăng ký biến động thì người mua sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Khoản 2 Điều 12 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai với mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng:

Điều 12. Không đăng ký đất đai

…………………………………….

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các trường hợp biến động đất đai quy định tại các Điểm a, b, h, i, k và l Khoản 4 Điều 95 của Luật Đất đai nhưng không thực hiện đăng ký biến động theo quy định.”.

Để thực hiện thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người mua cần chuẩn bị hồ sơ nộp tại Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện và nộp đầy đủ các loại phí, lệ phí như: lệ phí trước bạ, lệ phí thẩm định, lệ phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Hồ sơ, bao gồm:

– Đơn đề nghị đăng ký biến động (theo mẫu)

– Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (có công chứng, chứng thực)

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

– Bản sao chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của bên mua (có chứng thực)

– Biên lai thực hiện nghĩa vụ tài chính.

 

Hợp đồng tặng cho xe máy có phải công chứng?

Câu hỏi: Tôi có một chiếc xe máy Attila, sắp tới đây, do nhu cầu công việc tôi phải đi sang nước ngoài làm việc nên tôi muốn tặng lại chiếc xe này cho chị gái của tôi. Vậy xin cho hỏi: Hợp đồng tặng cho xe máy có bắt buộc công chứng không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ theo Điều 457 Bộ luật dân sự năm 2015 hợp đồng tặng cho tài sản:

“Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận”.

Đối với tài sản bạn muốn tặng cho chị gái bạn là chiếc xe máy Attila, tài sản này là động sản phải đăng ký quyền sở hữu. Căn cứ Điều 458 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về tặng cho động sản:

“1. Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký”.

Như vậy, theo quy định của Bộ luật dân sự thì hợp đồng tặng cho không bắt buộc công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, theo quy định tại Điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe:

“g) Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực”.

Như vậy, bạn và chị gái bạn phải thực hiện hiện ký kết hợp đồng tặng cho xe máy tại văn phòng công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Nhưng việc chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chỉ chứng thực được về chữ ký của các bên tham gia giao dịch, cũng như chứng thực được thời gian, địa điểm, năng lực hành vi dân sự của các bên tham gia giao dịch, còn về nội dung hợp đồng và tính chính xác, đúng quy định của pháp luật thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn không có quyền xác thực. Do đó, hai bạn nên đến tổ chức hành nghề công chứng để công chứng hợp đồng tặng cho xe máy để đảm bảo hình thức theo quy định và để làm thủ tục sang tên trên Giấy đăng ký xe.

 

Đăng ký hai mã số thuế cá nhân có được không?

Câu hỏi: Tôi đã được cấp mã số thuế cá nhân ở tỉnh A bằng chứng minh thư nhân dân cũ và giờ tôi đi làm ở tỉnh B. Tôi đã làm căn cước công dân mới thì tôi có xin cấp mã số thuế mới ở tỉnh B để dễ làm việc và đi lại cho thuận lợi được không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo điểm b khoản 1 điều 5 Thông tư 95/2016/TT-BTC quy định như sau:

“b) Cá nhân được cấp một mã số thuế duy nhất để sử dụng trong suốt cuộc đời của cá nhân đó. Người phụ thuộc của cá nhân được cấp mã số thuế để giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế thu nhập cá nhân. Mã số thuế cấp cho người phụ thuộc đồng thời cũng là mã số thuế của cá nhân khi cá nhân phát sinh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước”.

Như vậy, mỗi cá nhân chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất và sử dụng trong suốt đời. Do đó, bạn không thể đăng ký một mã số thuế khác được và nếu bạn có làm thủ tục đăng ký cấp mã số thuế theo số Căn cước công dân thì khi làm thủ tục tại cơ quan thuế, họ sẽ kiểm tra lại thông tin xem bạn đã được cấp mã số thuế chưa để làm căn cứ có cấp mã số thuế theo Căn cước công dân của bạn không thì bạn cũng không được cấp mã số thuế cá nhân khác.

Tư vấn thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất

Câu hỏi: Mình là Loan, ở tỉnh X. Nhà mình có một thửa đất ngày trước có sổ đỏ đứng tên bố rồi sang tên mẹ nhưng bố và mẹ mình mới mất. Giờ tụi mình còn nhỏ nên không rõ vấn đề đất đai nên giờ tìm bìa đỏ không có. Giờ mình nghe Dì em của mẹ nói giai đoạn mẹ làm bìa đỏ xong sau đó từ thị trấn lên thị xã nên gửi hết về xã để chuyển đổi, sau đó mẹ mình lâm bệnh qua đời nên không lấy về. Nhưng giờ mình qua xã, xã nói mình báo mất. Sự việc này xảy ra vì lô đất nhà mình đang canh tác tự nhiên ông bên cạnh nói lô đất nhà mình đang làm là của ông ta và ông ta đã có bìa đỏ. Mình đã vào gặp ông ta và ông ta nói là đất đó ngày xưa của ông ta mà ông ta cho ba mẹ mình nên ông ta không lấy. Nhưng khi vợ con ông tạo áp lực cho ông thì ông nói sao cho mà ba mẹ mình không làm sổ đỏ thì giờ ông lấy lại. Giờ mình không biết làm sao mong quý công ty tư vấn giúp.

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Khoản 9 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 quy định như sau:

“9. Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định”.

Theo đó, quyền sử dụng đất của cá nhân được thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo thông tin bạn cung cấp thì đất của gia đình bạn đang sử dụng đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ba bạn, sau đó sang tên cho mẹ bạn và nay ba mẹ bạn đã mất. Theo như Dì bạn kể lại với bạn thì mẹ bạn đã nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lên xã để làm thủ tục hành chính liên quan đến mảnh đất nhưng xã đã làm mất.

Khi bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bạn thực hiện thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 77 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP như sau:

“Điều 77. Cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do bị mất

1. Hộ gia đình và cá nhân, cộng đồng dân cư phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc bị mất Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hỏa hoạn.

Tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải đăng tin mất Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương.

2. Sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư hoặc kể từ ngày đăng tin lần đầu trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương đối với trường hợp của tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người bị mất Giấy chứng nhận nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận.

3. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với trường hợp chưa có bản đồ địa chính và chưa trích đo địa chính thửa đất; lập hồ sơ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Nghị định này ký quyết định hủy Giấy chứng nhận bị mất, đồng thời ký cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã”.

Như vậy, khi bạn nộp hồ sơ xin cấp lại giấy chứng nhân quyền sử dụng đất lên Ủy ban nhân dân xã, xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất tại trụ sở Ủy ban nhân dân hoặc đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng và đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai kiểm tra hồ sơ; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất, hủy Giấy chứng nhận bị mất đồng thời cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bạn.

Tuy nhiên, do đất đang bị tranh chấp do đó sẽ ảnh hưởng đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bạn cần giải quyết tranh chấp đất đai trước khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Để giải quyết tranh chấp đất đai, bạn làm đơn khiếu nại gửi tới Ủy ban nhân dân xã nơi đang có đất để hoà giải tranh chấp đất đai theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai 2013:

“Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải …”.

Trường hợp Ủy ban nhân dân xã kéo dài thời gian giải quyết hoặc bạn không đồng ý với biên bản hoà giải thì bạn có quyền khởi kiện tới Tòa án nhân dân huyện cấp huyện để yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai, bạn cần cung cấp các chứng cứ, giấy tờ chứng minh về quyền sử dụng đất của gia đình bạn như: sơ đồ địa chính, hồ sơ địa chính, hoá đơn thu tiền sử dụng đất hàng năm, … để làm căn cứ chứng minh.

Có công chứng được hợp đồng chuyển nhượng đất khi mất chứng minh nhân dân?

Câu hỏi: Vợ chồng mình đi làm ăn xa có mua được 1 miếng đất. Giờ muốn bán nhưng mình bị mất chứng minh nhân dân và không có hộ chiếu. Hộ khẩu thì vẫn ở quê. Vậy mình có đi công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất được không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì vợ chồng bạn đi làm ăn xa và có mua được một mảnh đất và giờ muốn bán (chuyển nhượng) mảnh đất này, muốn đi công chứng hợp đồng mua bán tại văn phòng công chứng nhưng bạn đã bị mất chứng minh nhân dân, và không có hộ chiếu, hộ khẩu thì ở quê. Để giải quyết vấn đề của bạn thì cần xem xét các phương diện sau:

Căn cứ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014 thì:

Điều 40. Công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn

1. Hồ sơ yêu cầu công chứng được lập thành một bộ, gồm các giấy tờ sau đây:

a) Phiếu yêu cầu công chứng, trong đó có thông tin về họ tên, địa chỉ người yêu cầu công chứng, nội dung cần công chứng, danh mục giấy tờ gửi kèm theo; tên tổ chức hành nghề công chứng, họ tên người tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng, thời điểm tiếp nhận hồ sơ;

b) Dự thảo hợp đồng, giao dịch;

c) Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng;

d) Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó;

đ) Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có.

2. Bản sao quy định tại khoản 1 Điều này là bản chụp, bản in hoặc bản đánh máy có nội dung đầy đủ, chính xác như bản chính và không phải chứng thực …”.

Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014 thì trong hồ sơ công chứng, văn bản, hợp đồng cần phải có bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng. Giấy tờ tùy thân được hiểu là loại giấy tờ xác định đặc điểm và nhận dạng nhân thân của một con người. Trong hoạt động công chứng, giấy tờ tùy thân giúp công chứng viên xác định, nhận dạng đúng chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch.

Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào quy định cụ thể giấy tờ tùy thân gồm những giấy tờ nào, Nghị định 05/1999/NĐ- CP của Chính phủ về Chứng minh nhân dân có nội dung khẳng định giấy Chứng minh nhân dân là một loại giấy tờ tùy thân của công dân (theo Điều 1 Nghị định 05/1999/NĐ- CP). Đồng thời theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 136/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xuất, nhập cảnh thì hộ chiếu quốc gia được sử dụng thay thế giấy chứng minh nhân dân. Ngoài ra, trong Luật căn cước công dân năm 2014 cũng có quy định: Thẻ Căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam có giá trị chứng minh về căn cước công dân của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt nam.

Qua phân tích nêu trên, theo quy định của pháp luật hiện hành thì chỉ có Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân và Hộ chiếu mới trực tiếp được coi là giấy tờ tùy thân. Do vậy, khi vợ chồng bạn muốn bán mảnh đất chung của hai vợ chồng và tiến hành thủ tục công chứng tại cơ quan, tổ chức hành nghề công chứng thì vợ, chồng bạn ngoài việc xuất trình các giấy tờ thể hiện quyền sử dụng đối với tài sản đất đai, dự thảo hợp đồng… thì còn phải xuất trình bản sao của các giấy tờ tùy thân của hai vợ chồng bạn, người mua mảnh đất. Trong đó, giấy tờ tùy thân hợp pháp ở đây được xác định là Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu.

Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp thì hiện nay bạn bị mất chứng minh nhân dân, không có hộ chiếu, bạn cần làm thủ tục cấp lại chứng minh nhân dân hoặc làm thủ tục cấp căn cước công dân.