Bổ sung điều kiện quản lý nội dung thông tin đối với mạng xã hội

CHIANGMAI, THAILAND -JUNE 25, 2015:Photo of new Apple iPhone 6 Plus smartphone device open facebook application.; Shutterstock ID 290468768; PO: aol; Job: production; Client: drone

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 27/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, trong đó, bổ sung điều kiện về quản lý nội dung thông tin đối với trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội.Theo đó, điều kiện về quản lý thông tin đối với mạng xã hội gồm: có thỏa thuận cung cấp và sử dụng dịch vụ mạng xã hội phù hợp và được đăng tải trên trang chủ của mạng xã hội; bảo đảm người sử dụng phải đồng ý thỏa thuận sử dụng dịch vụ mạng xã hội bằng phương thức trực tuyến thì mới có thể sử dụng được các dịch vụ, tiện ích của mạng xã hội.

Điều kiện về quản lý thông tin đối với mạng xã hội còn bao gồm: có cơ chế phối hợp để có thể loại bỏ ngay nội dung vi phạm khoản 1 Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP chậm nhất sau 3 giờ kể từ khi tự phát hiện hoặc có yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc cơ quan cấp phép (bằng văn bản, điện thoại, email); có biện pháp bảo vệ bí mật thông tin riêng, thông tin cá nhân của người sử dụng; bảo đảm quyền quyết định của người sử dụng trong việc cho phép thu thập thông tin cá nhân của mình hoặc cung cấp cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khác.

Điều kiện về quản lý thông tin đối với trang thông tin điện tử tổng hợp gồm: có quy trình quản lý thông tin công cộng: xác định phạm vi nguồn thông tin khai thác, cơ chế quản lý, kiểm tra thông tin trước và sau khi đăng tải; có cơ chế kiểm soát nguồn tin, đảm bảo thông tin tổng hợp đăng tải phải chính xác theo đúng thông tin nguồn; có cơ chế phối hợp để có thể loại bỏ ngay nội dung vi phạm khoản 1 Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP chậm nhất sau 3 giờ kể từ khi tự phát hiện hoặc có yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc cơ quan cấp phép (bằng văn bản, điện thoại, email).

Dẫn chiếu đến Khoản 1 Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP quy định về cấm lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích:

a) Chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo;

b) Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;

c) Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định;

d) Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân;

đ) Quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ bị cấm; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm;

e) Giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Nghị định cũng bổ sung điều kiện về tổ chức, nhân sự đối với trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội. Cụ thể, về nhân sự chịu trách nhiệm quản lý nội dung thông tin trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội, Nghị định quy định phải có ít nhất 1 nhân sự chịu trách nhiệm quản lý nội dung thông tin là người có quốc tịch Việt Nam hoặc đối với người nước ngoài có thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền cấp còn thời hạn ít nhất 6 tháng tại Việt Nam kể từ thời điểm nộp hồ sơ; có bộ phận quản lý nội dung thông tin.

Về nhân sự bộ phận kỹ thuật, Nghị định yêu cầu bộ phận quản lý kỹ thuật có tối thiểu 1 người đáp ứng quy định.

Nghị định có hiệu lực từ 15/4/2018.

 

Mất tiền ở Eximbank, ngân hàng sẽ bồi thường thiệt hại?

luạt sư nguyễn thanh hà
luạt sư nguyễn thanh hà

Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW đã có phần trao đổi trong chuyên mục Báo chí và góc nhìn kênh InfoTV về nội dung trên, mời các bạn đón đọc tại đây:

Câu hỏi: Vụ việc được cho là một Nguyên Phó GĐ Chi nhánh Ngân hàng Eximbank TPHCM đã lợi dụng khách hàng ký khống giấy ủy quyền để điền tên người được ủy quyền rút tiền tiết kiệm của khách hàng. Vụ việc này đặt ra vấn đề gì trong quy trình bảo vệ tiền gửi trong ngân hàng?
Trả lời: Về mặt pháp lý, tiền tiết kiệm được người dân đem gửi ngân hàng, bên cạnh mục đích lấy lãi còn là cách cất giữ tiền an toàn.

Tuy nhiên, phải thừa nhận, nhiều trường hợp người gửi tiền có lỗi khi thiếu cẩn trọng trong việc ký vào những chứng từ mà nhân viên ngân hàng đưa cho.

Những tờ giấy có chữ ký khống của người gửi tiền này sau đó đã được sử dụng trong việc chiếm đoạt tiền của chính người gửi.

Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận trách nhiệm của ngân hàng. Ngân hàng phải kiểm soát việc rút tiền qua nhiều quy trình, nhiều bậc, nhằm đảm bảo người rút tiền là ‘chính chủ’ hay không.

Nếu theo đúng quy trình khắt khe của hoạt động ngân hàng thì không dễ gì tiền bị thất thoát.

Chỉ có sự lỏng lẻo hoặc có sự câu kết của nhân viên phụ trách mới dẫn đến khủng hoảng chữ ký ở ngân hàng như hiện nay.

Câu hỏi: Eximbank cho biết các tài khoản tiền gửi tiết kiệm mà bà Bình đề nghị tất toán đã được rút một phần và chữ ký trên các chứng từ rút tiền được C44 thông tin là chữ ký thật của bà Bình. Do vậy Eximbank khẳng định trước mắt ngân hàng chưa có cơ sở để giải quyết yêu cầu tất toán sổ của khách hàng. Ngân hàng sẽ chờ phán quyết của Tòa án thì mới trả lại tiền. Câu trả lời của Ngân hàng như vậy có thỏa đáng không? Vì sao?

Trả lời: Mặc dù chưa được tiếp cận hồ sơ của vụ việc nhưng theo tôi khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng là một giao dịch dân sự.

Tham gia giao dịch này, một bên là cá nhân người gửi tiền, một bên là Tổ chức tín dụng. Giao dịch này chịu sự điều chỉnh của cả Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi năm 2017).
Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp, tổ chức Tín dụng (Eximbank) phải đứng ra giải quyết và thực thi quyền lợi chính đáng đã cam kết với khách hàng.

Bởi khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng thì ngân hàng phải có trách nhiệm bảo đảm khoản tiền gửi này, nếu có thất thoát, việc bồi hoàn là chuyện đương nhiên.

Việc Eximbank muốn đưa vụ việc ra toà và chờ đến khi có phán quyết của tòa mới chi trả tiền cho bà Bình là không phù hợp. Bởi trong vụ việc này tồn tại hai quan hệ, một là giao dịch dân sự giữa khách hàng và ngân hàng, hai là quan hệ hình sự.

Với quan hệ dân sự, ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền cho dù bất cứ lý do gì.

Bởi người gửi tiền chỉ tin tưởng và gửi tiền cho ngân hàng chứ không phải với bất cứ cá nhân nào làm việc tại ngân hàng.

Tiền khi gửi vào ngân hàng thì ngân hàng phải có nghĩa vụ quản lý và bảo toàn tiền gửi của khách hàng. Nếu mất mát, thất thoát thì ngân hàng phải bồi thường cho khách và không phải chờ phán quyết của toà án.

Câu hỏi: Tòa án có thể phán xử theo hướng nào? Dựa trên cơ sở luật pháp như thế nào?

Trả lời: Như tôi đã trình này ở trên, trong vụ việc này tồn tại hai quan hệ, một là giao dịch dân sự giữa khách hàng và ngân hàng, hai là quan hệ hình sự.

Nếu đúng về nguyên tắc trách nhiệm bồi thường của pháp nhân đối với hành vi do người của pháp nhân gây ra thì ngân hàng cần bồi hoàn ngay khoản tiền cho khách hàng.

Nhân viên của ngân hàng, dùng tư cách, chức vụ do ngân hàng giao để chiếm đoạt tiền của khách hàng thì trước hết ngân hàng phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng, sau đó việc truy đòi từ nhân viên của mình là trách nhiệm của ngân hàng.

Cơ sở pháp lý: Theo quy định tại Điều 87 BLDS 2015: “Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân”.

Câu hỏi:  Trong trường hợp Ngân hàng không chịu trả tiền, khách hàng có thể làm gì?

Trả lời: Trường hợp ngân hàng cố tình không chịu trả tiền, khách hàng có thể khởi kiện ngân hàng. Còn sau đó, ngân hàng muốn lấy lại tiền từ ông Hưng, thì ngân hàng sẽ khởi kiện lại ông này ra toà.

Và khi nào tòa án phán quyết Eximbank là bên bị thiệt hại thì khi đó ông Hưng có trách nhiệm trả lại tiền cho ngân hàng.

Câu hỏi: Những người gửi tiền cần tiến hành những biện pháp gì để tự bảo vệ?

Trả lời: Đối với những khách hàng đang có tiền gửi tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng, khách hàng cần nâng cao ý thức về an ninh bảo mật và tôn trọng, tuân thủ đầy đủ đúng quy trình giao dịch với ngân hàng.

Tuyệt đối không cung cấp mật khẩu giao dịch ngân hàng điện tử cho người khác, không truy cập các đường link lạ có nguy cơ bị hacker xâm nhập tài khoản đánh cắp dữ liệu.

Khách hàng cần đăng ký biến động số dư qua tin nhắn sms, thường xuyên kiểm tra số dư tài khoản, sổ tiết kiệm và ngay lập tức liên hệ với ngân hàng khi phát hiện những bất thường đối với tài khoản của mình.

Đồng thời, khách hàng không nên ký khống vào bất cứ giấy tờ nào, kể cả việc này là yêu cầu từ phía nhân viên của ngân hàng.

Bởi, quy định, quy trình nào cũng sẽ có kẽ hở. Nên việc ký khống sẽ là rất nguy hiểm nếu cán bộ ngân hàng không có đạo đức nghề nghiệp.

Giải pháp để phòng ngừa thiệt hại do doanh nghiệp FDI bỏ trốn

Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW đã trả lời trên báo Diễn đàn doanh nghiệp về các vụ việc doanh nghiệp FDI bỏ trốn trong thơi gian gần đây. Dưới đây là nội dung chi tiết:

Hiện nay, có nhiều vụ việc doanh nghiệp FDI bỏ trốn, ví dụ như Công ty KL Texwell Vina ở Đồng Nai đã rời bỏ Việt Nam bỏ lại khoản nợ bảo hiểm xã hội, nợ ngân hàng và hàng ngàn người thất nghiệp. Một trong những lý do được chỉ ra đó là thiếu lỗ hổng pháp lý và cụ thể là pháp luật chưa có quy định về thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với doanh nghiệp FDI khi vắng chủ. xin ông cho biết, ý kiến của mình liên quan đến nội dung này?

Trả lời:

Những chuyện lùm xùm gần đây ở Công ty KL Texwell Vina lại một lần nữa khiến dư luận sốt ruột trước tình trạng nhiều doanh nghiệp FDI lặng lẽ bỏ đi, để lại nhiều khoản nợ lớn, người lao động mất việc. Câu chuyện quản lý, giám sát chặt chẽ các doanh nghiệp FDI lại được đặt ra.

Các doanh nghiệp FDI vắng chủ thường có quy mô vốn đầu tư nhỏ, dưới 500.000 USD, phần lớn đến từ Hàn Quốc, Trung Quốc và hiện diện ở tất cả các lĩnh vực, từ thương mại, dịch vụ, bất động sản, xây dựng, phầm mềm, nhà hàng hay trong sản xuất.

Tuy nhiên, khi xử lý thực tế doanh nghiệp FDI vắng chủ, cơ quan chức năng lại đang rất lúng túng do không có quy định rõ ràng và đầy đủ. Theo nhận xét của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đó là bởi pháp luật hiện hành chưa có quy định về thu hồi giấy chứng nhận đầu tư với doanh nghiệp FDI vắng chủ.

Điều 65 Luật Đầu tư năm 2014 chỉ quy định việc thu hồi giấy chứng nhận đầu tư với dự án chậm tiến độ hoặc không thực hiện. Do vậy cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng không có căn cứ pháp lý để thu hồi giấy chứng nhận đầu tư.

Sau khi Luật Đầu tư 2014 ra đời, cơ sở pháp lý cho việc xử lý các dự án FDI vắng chủ đã có, tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại chưa thể giải quyết được như chủ đầu tư bỏ về nước không liên lạc được, tài sản chưa xử lý xong, nợ tiền lương người lao động, nợ tiền thuế, bảo hiểm xã hội…

Theo Khoản 2 Điều 201 Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và các nghĩa vụ khác. Như vậy khi doanh nghiệp FDI vắng chủ có nghĩa là doanh nghiệp đã triển khai hoạt động, đã phát sinh các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác nên không đáp ứng điều kiện để thực hiện giải thể.

Thêm nữa, việc giải quyết tranh chấp với người lao động và các khoản công nợ khác gặp đầy rẫy khó khăn tại cơ quan trọng tài hoặc tòa án. Nguyên nhân là do các cơ quan pháp luật này chỉ giải quyết tranh chấp khi có thỏa thuận trước bằng văn bản giữa doanh nghiệp và chủ nợ về giải quyết tranh chấp tại trọng tài. Nhưng ở đây, người đã biệt dạng nên không thể giải quyết được tại cơ quan trọng tài.

Người lao động cũng không thể nộp đơn khởi kiện tại tòa án vì không xác định được địa chỉ của bị đơn. Đó là chưa kể không ít trường hợp tòa án quyết định không thụ lý hồ sơ bởi không có báo cáo tài chính của doanh nghiệp đã được kiểm toán hợp lệ.

Giải pháp nào để xử lý tình trạng này?

Để phòng ngừa thiệt hại do doanh nghiệp FDI bỏ trốn, theo tôi, trước hết cần phải xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh hơn, cụ thể hơn vì đây là vấn đề lâu dài. Đồng thời, cần tập trung hậu kiểm hơn tiền kiểm. Các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn cần định kỳ cung cấp thông tin về doanh nghiệp để thiết lập lịch thanh tra, kiểm tra trên cơ sở phân loại rõ ràng theo các nhóm như: đang xây dựng, đang hoạt động tốt (nộp thuế, có nhiều lao động, có báo cáo định kỳ…), loại có vấn đề cần quan tâm (nợ thuế, chậm lương…). Cần theo sát hoạt động của các loại doanh nghiệp này.

Ngoài ra, khi đã có hiện tượng bỏ trốn, các cơ quan chức năng cần quyết liệt liên hệ với chính quyền nơi chủ doanh nghiệp đăng ký đầu tư vào VN (vốn đã được thẩm định hoặc xem xét đến tính hợp lệ trong quá trình cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư) để truy tìm chủ doanh nghiệp bỏ trốn… Bản thân người lao động, doanh nghiệp VN cũng cần cảnh giác trước các dấu hiệu kể trên.

Chúng ta không thể phủ nhận các doanh nghiệp FDI đang là một động lực còn đóng góp tích cực cho nền kinh tế. Nhưng không vì thế chúng ta xem nhẹ việc hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý chặt dòng vốn đầu tư này.

Quy chế hoạt động của sàn giao dịch thương mại điện tử được quy định ra sao?

Câu hỏi: Tôi là Khoán. Qúy công ty cho tôi hỏi: Quy chế hoạt động của sàn giao dịch thương mại điện tử được quy định ra sao?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Quy chế hoạt động của sàn giao dịch thương mại điện tử được quy định tại Điều 38 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP như sau:

1. Quy chế hoạt động của sàn giao dịch thương mại điện tử phải được thể hiện trên trang chủ của website.

2. Quy chế hoạt động sàn giao dịch thương mại điện tử phải bao gồm các nội dung sau:

a) Quyền và nghĩa vụ của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử;

b) Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử;

c) Mô tả quy trình giao dịch đối với từng loại giao dịch có thể tiến hành trên sàn giao dịch thương mại điện tử;

d) Hoạt động rà soát và thẩm quyền xử lý của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử khi phát hiện các hành vi kinh doanh vi phạm pháp luật trên sàn giao dịch;

đ) Quyền và nghĩa vụ của các bên trong các giao dịch được thực hiện trên sàn giao dịch thương mại điện tử;

e) Giới hạn trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử trong những giao dịch thực hiện trên sàn;

g) Các quy định về an toàn thông tin, quản lý thông tin trên sàn giao dịch thương mại điện tử;

h) Cơ chế giải quyết khiếu nại, tranh chấp giữa các bên liên quan đến giao dịch tiến hành trên sàn giao dịch thương mại điện tử;

i) Chính sách bảo vệ thông tin cá nhân của người sử dụng dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử theo quy định tại Điều 69 Nghị định này;

k) Biện pháp xử lý với các hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng trên sàn giao dịch thương mại điện tử;

l) Biện pháp xử lý vi phạm đối với những người không tuân thủ quy chế hoạt động của sàn giao dịch thương mại điện tử.

3. Khi có thay đổi về một trong các nội dung nêu tại Khoản 2 Điều này, thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử phải thông báo cho tất cả các đối tượng sử dụng dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử ít nhất 5 ngày trước khi áp dụng những thay đổi đó.

Trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử được pháp luật quy định như thế nào?

Câu hỏi: Tôi là Trung, ở Phú Thọ. Qúy công ty cho tôi hỏi: Trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử được pháp luật quy định như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử được quy định tại Điều 37 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP như sau:

1. Cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin quy định tại Điều 29 Nghị định này cho thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử khi đăng ký sử dụng dịch vụ.

2. Cung cấp đầy đủ thông tin về hàng hóa, dịch vụ theo quy định từ Điều 30 đến Điều 34 Nghị định này khi bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên sàn giao dịch thương mại điện tử.

3. Đảm bảo tính chính xác, trung thực của thông tin về hàng hóa, dịch vụ cung cấp trên sàn giao dịch thương mại điện tử.

4. Thực hiện các quy định tại Mục 2 Chương II Nghị định này khi ứng dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên sàn giao dịch thương mại điện tử.

5. Cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh của mình khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phục vụ hoạt động thống kê thương mại điện tử.

6. Tuân thủ quy định của pháp luật về thanh toán, quảng cáo, khuyến mại, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các quy định của pháp luật có liên quan khác khi bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên sàn giao dịch thương mại điện tử.

7. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật.

Thành lập website thương mại điện tử bán hàng với tư cách cá nhân có cần phải có giấy phép kinh doanh không?

Câu hỏi: Tôi là Khương, ở Hà Nội. Tôi muốn tạo một web quảng cáo trên mạng cho cửa hàng dịch vụ của mình nhưng cửa hàng của tôi chưa có giấy phép kinh doanh. Vậy có hợp pháp không? Có những điều kiện pháp lý nào để tạo và duy trì một trang web trên mạng?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Website thương mại điện tử (dưới đây gọi tắt là website) là trang thông tin điện tử được thiết lập để phục vụ một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ, từ trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dịch vụ sau bán hàng.

Căn cứ Điều 52 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP xác định điều kiện website thương mại điện tử như sau:

Các thương nhân, tổ chức, cá nhân được thiết lập website thương mại điện tử bán hàng nếu đáp ứng các điều kiện sau:

1. Là thương nhân, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ phù hợp hoặc cá nhân đã được cấp mã số thuế cá nhân.

2. Có website với tên miền hợp lệ và tuân thủ các quy định về quản lý thông tin trên Internet.

3. Đã thông báo với Bộ Công Thương về việc thiết lập website thương mại điện tử bán hàng theo quy định tại Điều 53 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.

Thủ tục thông báo về việc thiết lập website thương mại điện tử bán hàng:

Thương nhân, tổ chức, cá nhân phải thông báo với Bộ Công Thương thông qua công cụ thông báo trực tuyến trên Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử;

Nội dung thông báo gồm:

a) Tên miền của website thương mại điện tử;

b) Loại hàng hóa, dịch vụ giới thiệu trên website;

c) Tên đăng ký của thương nhân, tổ chức hoặc tên của cá nhân sở hữu website;

d) Địa chỉ trụ sở của thương nhân, tổ chức hoặc địa chỉ thường trú của cá nhân;

đ) Số, ngày cấp và nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của thương nhân, hoặc số, ngày cấp và đơn vị cấp quyết định thành lập của tổ chức; hoặc mã số thuế cá nhân của cá nhân;

e) Tên, chức danh, số chứng minh nhân dân, số điện thoại và địa chỉ thư điện tử của người đại diện thương nhân, người chịu trách nhiệm đối với website thương mại điện tử;

g) Các thông tin khác theo quy định của Bộ Công Thương.

Trong trường hợp này, bạn lập một website để quảng cáo sản phẩm của bạn trên website. Nếu bạn tạo lập với tư cách cá nhân, điều kiện bạn có mã số thuế thì bạn đủ điều kiện thiết lập website. Nhưng nếu bạn tạo lập với tư cách cửa hàng (thương nhân) thì bạn phải đảm bảo điều kiện theo Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005:

“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”.

Do đó, nếu bạn đăng ký dưới tư cách này thì bạn phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp.

Website chia sẻ trò chơi trên di động có phải là website thương mại điện tử?

Câu hỏi: Mình là Tuấn, ở Hải Phòng. Mình đang thử nghiệm làm 1 website chia sẻ trò chơi trên di động. Trong số đó, hầu hết là game miễn phí, không thu phí của khách hàng trong bất cứ trường hợp nào. Nhưng với một số game online thì được các công ty game chia hoa hồng theo hình thức AffiateMaketing (tiếp thị liên kết) khi người chơi nạp tiền vào game online để thực hiện mua trang bị ảo của Game. Số tiền thu được từ công ty game đã được tính 10% VAT. Vậy: Website này có phải website thương mại điện tử không và có cần thực hiện thủ tục đăng kí thông báo website với Bộ Công Thương không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo Khoản 8 Điều 2 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử có quy định:

Website thương mại điện tử (dưới đây gọi tắt là website) là trang thông tin điện tử được thiết lập để phục vụ một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ, từ trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dịch vụ sau bán hàng.

Với Website của bạn là website chia sẻ trò chơi hầu hết miễn phí, còn có những game được chia hoa hồng lợi nhuận như vậy, vẫn là một trang thông tin điện tử để phục vụ hoạt động cung ứng dịch vụ, lợi nhuận là nhằm mục đích thì đây là hoạt động cung ứng dịch vụ. Theo đó, đây là website thương mại điện tử.

Về việc thông báo, đăng ký website thương mại điện tử với Bộ Công Thương:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 53 Nghị định 52/2013/NĐ-CP có quy định: Thương nhân, tổ chức, cá nhân thiết lập website thương mại điện tử bán hàng phải thông báo với Bộ Công Thương thông qua công cụ thông báo trực tuyến trên Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử;

Tại Khoản 1 Điều 55 Nghị định này quy định về thủ tục đăng ký thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử như sau:

Thương nhân, tổ chức tiến hành đăng ký trực tuyến với Bộ Công Thương về việc thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử sau khi website đã được hoàn thiện với đầy đủ cấu trúc, tính năng và thông tin theo đề án cung cấp dịch vụ, đã hoạt động tại địa chỉ tên miền được đăng ký và trước khi chính thức cung cấp dịch vụ đến người dùng.

Như vậy, trang Website của bạn phải được thông báo, đăng kí thiết lập website thương mại điện tử tại Bộ Công Thương theo điều kiện, trình tự pháp luật có quy định.

Cá nhân người nước ngoài có được đăng ký website thương mại điện tử ở Việt Nam?

Câu hỏi: Tôi là Lan. Qúy công ty cho tôi hỏi: Giữa 1 người Việt Nam và một nguời nước ngoài thì việc đăng kí website thương mại điện tử có giống nhau không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử quy định về chủ thể có quyền đăng ký website thương mại điện tử gồm:

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Nghị định này áp dụng đối với các thương nhân, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thương mại điện tử trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm:

a) Thương nhân, tổ chức, cá nhân Việt Nam;

b) Cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam;

c) Thương nhân, tổ chức nước ngoài có sự hiện diện tại Việt Nam thông qua hoạt động đầu tư, lập chi nhánh, văn phòng đại diện, hoặc thiết lập website dưới tên miền Việt Nam.

2. Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông căn cứ điều kiện kinh tế, xã hội và yêu cầu quản lý của từng thời kỳ để hướng dẫn các biện pháp quản lý đối với thương nhân, tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành hoạt động thương mại điện tử với chủ thể Việt Nam”.

Như vậy, người nước ngoài được đăng ký website thương mại điện tử tại Việt Nam trong trường hợp: nếu là cá nhân thì phải cư trú tại Việt Nam, nếu là tổ chức thì phải có sự hiện diện tại Việt Nam thông qua hoạt động đầu tư lập chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc thiết lập website dưới tên miền Việt Nam.

Theo Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử và Thông tư số 47/2014/TT-BCT quy định về quản lý website thương mại điện tử thì thủ tục đăng ký website thương mại điện tử giữa một người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và một người Việt Nam là giống nhau.

Hành vi không đăng ký website thương mại điện tử khi kinh doanh qua mạng sẽ bị xử lý như thế nào?

Câu hỏi: Mình là Hoàng Anh. Qúy công ty cho mình hỏi: hành vi không đăng ký website thương mại điện tử khi kinh doanh qua mạng sẽ bị xử lý thế nào?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định tại Thông tư số 47/2014/TT-BCT, cá nhân, tổ chức lập website để kinh doanh phải có trách nhiệm thông báo, đăng ký website thương mại điện tử với Bộ Công Thương tại Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử www.online.gov.vn.

Hồ sơ đăng ký và quy trình đăng ký thực hiện theo quy định tại Mục 1 Chương II Thông tư số 47/2014/TT-BCT.

Trường hợp cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thông báo, đăng ký website thương mại điện tử với Bộ Công Thương không tuân thủ việc đăng ký sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 185/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cụ thể được quy định tại Điều 81 Nghị định này. Theo đó, mức phạt cụ thể như sau:

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Thiết lập website thương mại điện tử bán hàng hoặc ứng dụng bán hàng mà không thông báo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định;

b) Không thông báo sửa đổi, bổ sung khi có sự thay đổi thông tin liên quan đến website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử hoặc ứng dụng dịch vụ thương mại điện tử đã đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định.

2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử hoặc ứng dụng dịch vụ thương mại điện tử mà không đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định; …”.

Như vậy, trường hợp cá nhân, tổ chức không thông báo thiết lập website thương mại điện tử hoặc có thông báo nhưng chưa được xác nhận đăng ký mà vẫn tiến hành hoạt động kinh doanh trên website thì sẽ bị xử phạt với mức phạt tương ứng như trên.

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử được quy định như thế nào?

Câu hỏi: Tôi là Thùy, ở Hà Nội. Qúy công ty cho tôi hỏi: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử được quy định như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Xử lý vi phạm hành chính trong thương mại điện tử được quy định tại Điều 78 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP như sau:

1. Thương nhân, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm sau đây thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử:

a) Vi phạm quy định về các hành vi bị cấm trong hoạt động thương mại điện tử tại Điều 4 Nghị định này;

b) Vi phạm quy định về giao kết hợp đồng trong thương mại điện tử;

c) Vi phạm quy định về trách nhiệm của các chủ thể trong thương mại điện tử;

d) Vi phạm quy định về thông báo thiết lập website thương mại điện tử bán hàng;

đ) Vi phạm quy định về đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử;

e) Vi phạm quy định về hoạt động đánh giá và chứng thực trong thương mại điện tử;

g) Vi phạm quy định về bảo vệ thông tin cá nhân trong thương mại điện tử;

h) Vi phạm quy định về an toàn thanh toán trong thương mại điện tử;

i) Không chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi tiến hành thanh tra, kiểm tra theo quy định của pháp luật;

k) Tiếp tục hoạt động sau khi thương nhân, tổ chức đã bị chấm dứt đăng ký cung cấp dịch vụ thương mại điện tử;

l) Tiếp tục hoạt động sau khi đã chấm dứt hoặc bị hủy bỏ đăng ký, chấm dứt hoặc bị thu hồi giấy phép hoạt động đánh giá, giám sát và chứng thực trong thương mại điện tử;

m) Vi phạm các quy định khác của Nghị định này.

2. Ngoài việc xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan quản lý xem xét tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của thương nhân, tổ chức để ra quyết định đình chỉ hoạt động/tước quyền sử dụng giấy phép hoặc hủy bỏ đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử đối với các vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này.

3. Trường hợp thương nhân, tổ chức, cá nhân vi phạm gây thiệt hại đến lợi ích vật chất của thương nhân, tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

4. Nguyên tắc xử phạt, thời hiệu xử phạt, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại điện tử được thực hiện theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản có liên quan.

5. Thanh tra Bộ Công Thương, Cơ quan quản lý thị trường, Thanh tra Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan nhà nước khác có quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại điện tử theo thẩm quyền quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản có liên quan.

Tư vấn về sử dụng chữ ký điện tử cho công ty khi tiến hành các giao dịch

Câu hỏi: Công ty tôi là công ty cổ phần, có trụ sở ở Hà Nội. Công ty tôi có nhiều loại biên bản khi giao dịch với khách hàng cần xác nhận, do đó mỗi nội dung thường có một loại biên bản để khách hàng ký xác nhận. Tuy nhiên tôi được biết hiện nay việc áp dụng chữ ký trên thiết bị điện tử đang được sử dụng rộng rãi do đó tôi muốn hỏi một số nội dung như sau:

1. Công ty tôi có thể áp dụng hình thức ký bằng bút điện tử hoặc một thiết bị khác tương đương vào máy tính bảng cảm ứng để xác nhận các công việc của Công ty tôi đã thực hiện với khách hàng hay không?

2. Nếu xảy ra tranh chấp thì các loại biên bản nêu trên có thể đưa ra làm chứng cứ hoặc cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề tại tòa án hay không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Công ty của bạn có thể tiến hành ký chữ bằng chữ ký điện tử để thực hiện việc xác nhận công việc của công ty bạn với khách hàng.

Căn cứ tại Điều 24 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định:

“1. Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đó đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu chữ ký điện tử được sử dụng để ký thông điệp dữ liệu đó đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Phương pháp tạo chữ ký điện tử cho phép xác minh được người ký và chứng tỏ được sự chấp thuận của người ký đối với nội dung thông điệp dữ liệu;

b) Phương pháp đó là đủ tin cậy và phù hợp với mục đích mà theo đó thông điệp dữ liệu được tạo ra và gửi đi.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần được đóng dấu của cơ quan, tổ chức thì yêu cầu đó đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bởi chữ ký điện tử của cơ quan, tổ chức đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 22 của Luật này và chữ ký điện tử đó có chứng thực.

3. Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng chữ ký điện tử của cơ quan, tổ chức”.

Như vậy, việc xác nhận các công việc của công ty bạn bằng chữ kỹ điện tử đáp ứng các điều kiện trên sẽ có giá trị pháp lý và các loại biên bản được ký bằng chữ ký điện tử nêu trên có thể đưa ra làm chứng cứ hoặc cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề tại tòa án.

Các hành vi bị cấm trong hoạt động thương mại điện tử

Câu hỏi: Mình là Vũ, ở Hà Nội. Qúy Công ty cho tôi hỏi: các hành vi nào bị cấm trong hoạt động thương mại điện tử?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì những hành vi sau bị cấm trong hoạt động thương mại điện tử:

1. Vi phạm về hoạt động kinh doanh thương mại điện tử:

– Tổ chức mạng lưới kinh doanh, tiếp thị cho dịch vụ thương mại điện tử, trong đó mỗi người tham gia phải đóng một khoản tiền ban đầu để mua dịch vụ và được nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc vận động người khác tham gia mạng lưới;

– Lợi dụng thương mại điện tử để kinh doanh hàng giả, hàng hóa, dịch vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh;

– Lợi dụng danh nghĩa hoạt động kinh doanh thương mại điện tử để huy động vốn trái phép từ các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác;

– Cung cấp các dịch vụ thương mại điện tử hoặc dịch vụ giám sát, đánh giá và chứng thực trong thương mại điện tử khi chưa đăng ký hoặc chưa được cấp phép theo các quy định của Nghị định này;

– Cung cấp các dịch vụ thương mại điện tử hoặc dịch vụ giám sát, đánh giá và chứng thực trong thương mại điện tử không đúng với thông tin trong hồ sơ đăng ký hoặc cấp phép;

– Có hành vi gian dối hoặc cung cấp thông tin sai sự thật khi thực hiện các thủ tục thông báo thiết lập website thương mại điện tử, đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử, đăng ký hoặc xin cấp phép các dịch vụ giám sát, đánh giá và chứng thực trong thương mại điện tử.

2. Vi phạm về thông tin trên website thương mại điện tử:

– Giả mạo thông tin đăng ký hoặc không tuân thủ các quy định về hình thức, quy cách công bố thông tin đăng ký trên website thương mại điện tử;

– Sử dụng biểu trưng của các chương trình đánh giá tín nhiệm website thương mại điện tử khi chưa được những chương trình này công nhận;

– Sử dụng các đường dẫn, biểu trưng hoặc công nghệ khác trên website thương mại điện tử để gây nhầm lẫn về mối liên hệ với thương nhân, tổ chức, cá nhân khác;

– Sử dụng đường dẫn để cung cấp những thông tin trái ngược hoặc sai lệch so với thông tin được công bố tại khu vực website có gắn đường dẫn này.

3. Vi phạm về giao dịch trên website thương mại điện tử:

– Thực hiện các hành vi lừa đảo khách hàng trên website thương mại điện tử;

– Giả mạo thông tin của thương nhân, tổ chức, cá nhân khác để tham gia hoạt động thương mại điện tử;

– Can thiệp vào hệ điều hành và trình duyệt Internet tại các thiết bị điện tử truy cập vào website nhằm buộc khách hàng lưu lại website trái với ý muốn của mình.

4. Các vi phạm khác:

– Đánh cắp, sử dụng, tiết lộ, chuyển nhượng, bán các thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh của thương nhân, tổ chức, cá nhân khác hoặc thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử khi chưa được sự đồng ý của các bên liên quan, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

– Giả mạo hoặc sao chép giao diện website thương mại điện tử của thương nhân, tổ chức, cá nhân khác để kiếm lợi hoặc để gây nhầm lẫn, gây mất lòng tin của khách hàng đối với thương nhân, tổ chức, cá nhân đó.