Câu hỏi: Tôi hiện đang sinh sống ở Mỹ, muốn về Việt Nam mua đất mở trang trại trồng rau sạch. Luật sư có thể tư vấn cho tôi được biết bạn tôi phải làm những thủ tục gì để được mua đất mở trang trại trồng rau sạch tại Việt Nam?
Trả lời:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 3 của Luật Quốc tịch năm 2008:
1. Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam
…………….
3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.
Như vậy bạn là người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Theo quy định tại điều 5 Luật Đất đai năm 2013 có quy định như sau:
“Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, bao gồm:
1. Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức);
2. Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân); …..
5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ;
6. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch; …”.
Như vậy trường hợp bạn là công dân Việt nam định cư ở nước ngoài thì có quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013.
Với nhiều kinh nghiệm trong việc tư vấn các dự án kinh doanh bất động sản, luật sư Nguyễn Thanh Hà, từ công ty Luật S&B Law đã tham gia trả lời phỏng vấn về vấn đề sửa đổi Luật kinh doanh bất động sản.
Câu hỏi: Gia đình tôi đang sinh sống và làm việc tại Mỹ. Cả tôi và vợ đều làm việc trong ngành y. Hiện nay, chúng tôi muốn mở một phòng khám tại Việt Nam. Chồng tôi đã có giấy chứng nhận hành nghề Y tại Mỹ. Tôi muốn hỏi là khi về mở phòng khám tại Việt Nam, chồng tôi có phải chuyển đổi giấy chứng nhận hành nghề theo quy định của Luật pháp của Việt Nam quy định hay không?
Trả lời:
Điều 22 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định:
“Điều 22. Thừa nhận chứng chỉ hành nghề
Việc thừa nhận chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh giữa các nước được thực hiện theo quy định của thỏa thuận quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.
Như vậy, việc chồng bạn có phải chuyển đổi chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật Việt Nam hay không phải phụ thuộc theo quy định của thỏa thuận quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Luật sư Nguyễn Thanh Hà tư vấn về thành lập công ty Logistic cho nhà đầu tư nước ngoài trên truyền hình Netviet-VTC10. Mời các bạn đón xem:
Câu hỏi: Chồng tôi là một bác sĩ người Mỹ. Hiện nay, chồng tôi muốn mở môt mở phòng mạch hoặc nhà thuốc tây ở Việt Nam. Tôi muốn hỏi, pháp luật Việt Nam đã cho phép người nước ngoài mở phòng khám đa khoa ở Việt Nam chưa? Nếu được thì mức vốn đầu tư tối thiểu là bao nhiêu và phải nộp hồ sơ ở đâu?
Trả lời:
Dịch vụ khám chữa bệnh thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện (Phụ lục 4 Luật Đầu tư năm 2014).
Theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam có hiệu lực từ ngày 11-1-2007, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được cung cấp dịch vụ thông qua việc thành lập bệnh viện, bệnh xá đa khoa, phòng khám chuyên khoa 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam hoặc thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Vốn đầu tư tối thiểu cho một bệnh viện là 20 triệu USD, bệnh xá đa khoa (policlinic) là 2 triệu USD và cơ sở điều trị chuyên khoa là 200.000 USD. Bác sĩ hành nghề phải có kinh nghiệm phải được Bộ Y tế Việt Nam công nhận về chuyên môn. Hồ sơ đăng ký đầu tư (8 bộ, trường hợp dự án đầu tư thuộc thẩm quyền chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ: 10 bộ) nộp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh/thành phố.
Chuyên mục Tư Vấn Pháp Luật – Luật sư Nguyễn Thanh Hà trả lời câu hỏi của khán giả về vấn đề bổ sung dịch vụ kinh doanh trong giấy chứng nhận đầu tư khu công nghiệp.
Câu hỏi: Tôi có một người bạn nước ngoài. Anh đến từ Australia. Năm 2017, Anh kết hôn với một người phụ nữ Việt Nam. Sau khi kết hôn anh có ý định sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Anh muốn một nhà thuốc thuộc một bệnh viện vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Luật sư có thể tư vấn cho tôi được biết là bạn tôi phải làm những thủ tục gì để có thể có giấy phép đăng ký mở nhà thuốc bán lẻ tại Việt Nam?
Trả lời:
Căn cứ Khoản 3 điều 3 Thông tư 15/2011/TT-BYT quy định: “Bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài không được mở cơ sở bán lẻ thuốc của chính bệnh viện, không được liên doanh, liên kết để thành lập cơ sở bán lẻ thuốc, trừ trường hợp được Chính phủ cho phép triển khai thí điểm. Để đảm bảo nguồn cung ứng thuốc cho bệnh nhân, bệnh viện tạo điều kiện để doanh nghiệp kinh doanh thuốc hoặc cá nhân tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam.”
Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì bạn của bạn là người nước ngoài, có nguyện vọng muốn mở nhà thuốc thuộc một bệnh viện vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Xét theo quy định được đưa ra trên đây thì bạn của bạn không thể mở nhà thuốc nhà thuốc thuộc một bệnh viện vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tuy nhiên, bạn ấy vẫn có thể đứng tên mở một nhà thuốc bán lẻ.
Theo điểm đ khoản 2 Điều 32 Luật Dược năm 2016: “Cơ sở bán lẻ thuốc bao gồm nhà thuốc, quầy thuốc, tủ thuốc trạm y tế xã, cơ sở chuyên bán lẻ dược liệu, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền”.
Như vậy, thủ tục mở nhà thuốc, quầy thuốc sẽ tuân theo quy định của cơ sở bán lẻ thuốc.
Theo đó, thủ tục đăng ký cơ sở kinh doanh bán lẻ thuốc gồm các bước sau:
Bước 1: Đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề dược
Chứng chỉ hành nghề dược cấp cho người quản lý chuyên môn về dược của cửa hàng bán lẻ thuốc mục đích là nhằm đảm bảo năng lực chuyên môn của dược sỹ. Chứng chỉ hành nghề dược là tài liệu bắt buộc phải có khi cá nhân phụ trách chuyên môn của quầy thuốc nói riêng và cơ sở kinh doanh thuốc nói chung. Nếu cá nhân/tổ chức tiến hành hoạt động cơ sở kinh doanh thuốc mà sử dụng người quản lý chuyên môn về dược không có Chứng chỉ hành nghề dược thì bị xử phạt phạt hành chính hoặc đóng cửa cơ sở (theo Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế).
Bước 2: Thành lập pháp nhân
Nếu Khách hàng không thuộc các trường hợp không phải đăng ký kinh doanh theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 39/2007/NĐ-CP quy định về hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh (Cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên) thì Khách hàng có nghĩa vụ phải đăng ký kinh doanh. Thủ tục đăng ký kinh doanh, loại hình đăng ký kinh doanh được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Bước 3: Đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề dược
Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề dược là điều kiện bắt buộc phải có khi doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm, nếu cơ sở đã đi vào hoạt động mà không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề dược thì mức phạt từ cảnh cáo đến phạt hành chính hoặc đóng cửa cơ sở (theo Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế).
Bước 4: Đề nghị cấp Giấy chứng nhận nhà thuốc đạt tiêu chuẩn GPP
Ngày 15/12/2010 Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 43/2010/TT-BYT về quy định lộ trình thực hiện nguyên tắc tiêu chuẩn GPP. Theo quy định tại Điều 3 của thông tư quy định Nhà thuốc thành lập mới phải đạt tiêu chuẩn thực hành tốt nhà thuốc GPP.
Trong chương trình luật sư doanh nghiệp, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch công ty luật SBLAW đã có bài trả lời phỏng vấn về bải bỏ Giấy phép con theo Luật đầu tư năm 2014.
Câu hỏi: Tôi là Khoa, là chủ sở hữu hợp pháp thửa ruộng 5.000 m2 đất tại xã X, đã có Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất. Vừa qua, chính quyền xã chủ trương mở một con kênh thủy lợi đi ngang qua phần đất của tôi không những làm mất trắng của tôi 1.000 m2 đất mà hiện tại vẫn còn đang nạo vét thêm. Đất sau khi nạo vét thì đem đổ đi nơi khác, làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của tôi. Trước sự việc bị thu hồi đất trên, tôi đã làm đơn khiếu nại UBND xã. Theo biên bản làm việc giữa UBND xã và tôi thì UBND xã cũng đã thừa nhận việc cho đến thời điểm này, xã vẫn chưa trao bất kì một quyết định thu hồi đất nào cho tôi mà chỉ giải thích hết sức chung chung, không dựa vào bất cứ một cơ sở pháp lí nào cả. Vậy quý công ty cho tôi hỏi: Việc thu hồi đất của UBND xã đúng hay sai?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Trong trường hợp trên, việc thu hồi đất của UBND xã X là sai. Vì:
Thứ nhất, bạn là chủ sở hữu hợp pháp của mảnh đất 5.000 m2 trên vì bạn có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thứ hai, đất của bạn được sử dụng vào mục đích vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, việc thu hồi đất đối với trường hợp này được quy định chặt chẽ về mặt thủ tục. Điều 67 Luật Đất Đai năm 2013 quy định:
1. Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.
2. Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất.
3. Người có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
4. Khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất”.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều này khi bị UBND xã X thu hồi đất, bạn vẫn chưa được thông báo về diện tích đất bị thu hồi cũng như những vấn đề trên. Không những thế, hiện tại số đất đó “vẫn còn đang nạo vét thêm”. Như vậy, UBND xã X vẫn chưa hoàn thiện kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất mà đã tiến hành thu hồi đất.
Thứ ba, theo quy định tại Khoản 2 Điều 66 Luật đất đai năm 2013 thì:
“2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;
b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam”.
Thứ tư, căn cứ vào khoản 1 Điều 75 Luật đất đai năm 2013:
“Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp”.
Qua những căn cứ trên kết luận, việc UBND xã X thu hồi đất của gia đình bạn là sai với quy định của pháp luật.
Trong chương trình luật sư của doanh nghiệp trên kênh thị trường kinh tế tài chính VITV Luật sư Nguyễn Thanh Hà chủ tịch công ty luật SBLAW trao đổi về thẩm quyền ban hành điều kiện kinh doanh. Mời quý vị đón xem đoạn video sau đây:
Câu hỏi: Mình là Thúy. Mình có ký hợp đồng lao động thời hạn 01 năm với công ty kể từ ngày 18/12/2016. Đến ngày 18/11/2017, mình có làm đơn đề nghị được chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày 18/12/2017 với lý do hợp đồng lao động hết hạn và không có nhu cầu ký tiếp hợp đồng. Ngày 30/11/2017, Giám đốc đã phê duyệt trên đơn đề nghị của mình là đồng ý không ký tiếp hợp đồng vàyêu cầu mình hoàn trả lại số tiền thưởng đã chi giữa năm 2017 mới hoàn trả sổ bảo hiểm xã hộivới lý do số tiền thưởng này là chi trước cho cuối năm 2017, do mình chưa làm việc hết năm 2017 và kết quả làm việc trong những tháng trước đó (trong năm 2017) chưa đạt yêu cầu nên phải hoàn trả lại. Xin hỏi: Việc công ty không hoàn trả sổ bảo hiểm cho mình với lý do trên có đúng quy định của pháp luật hay không? Mình cần phải làm gì để lấy lại được sổ bảo hiểm của mình?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Căn cứ theo Khoản 2, 3 Điều 47 Bộ Luật Lao động năm 2012:
“2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt khác, có thể kéo dài những không quá 30 ngày.
3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động”.
Như vậy, công ty không được lấy lý do trên để không trả sổ bảo hiểm xã hội. Công ty bạn phải có trách nhiệm trả sở bảo hiểm xã hội trong thời hạn 07 ngày, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.
Bạn có thể khiểu nại với chính công ty và buộc phải trả sổ bảo hiểm xã hội đúng thời gian quy định. Nếu quá thời gian trên thì bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết: hòa giải viên lao động, tòa án, …
Trong chương trình Hộp tin Việt Nam, Kênh thông tin Kinh tế VTC8, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SB Law cùng với các chuyên gia M&A đã có buổi trao đổi về quy trình tư vấn một vụ M&A. Cũng trong buổi phỏng vấn, luật sư Nguyễn Thanh hà nhẫn mạnh tới vấn đề doanh nghiệp cần làm báo cáo thẩm tra pháp lý (Due Diligence) để biết được tình trạng thực sự của doanh nghiệp mà họ muốn mua, lường trước các rủi ro và soạn thảo được một hợp đồng mua bán và sáp nhập chặt chẽ, hạn chế rủi ro… Mời quý vị đón xem đoạn video sau đây:
Câu hỏi: Hiện tại nhà tôi có 6 người, gồm mẹ tôi, và 5 anh chị em, bao gồm 3 trai 2 gái. đều đã có gia đình riêng. Năm 2002 bố tôi mất có để lại khối tài sản gồm: 400m2 đất ở; 1600m2 đất vườn; 4000m2 đất nông nghiệp. Giấy CNQSD đất đứng tên một mình ông, không có tên mẹ tôi. Năm 2007 mẹ tôi tặng cho anh trai lớn một mảnh đất 100m2 đất ở. Năm 2012, mẹ tôi tiếp tục tặng cho anh thứ 2 và tôi mỗi người 100m2 đất ở. Xin lưu ý là cả hai lần đều là tặng cho tài sản, không phải là chia thừa kế, khi đó 2 người con gái ở xa chỉ điện về ủy nhiệm cho mẹ tôi, mẹ tôi cam kết với chính quyền là họ không kiện tụng gì. Sau đó trong quá trình làm thủ tục cấp giấy CNQSD đất và sử dụng sau đó không ai khiếu kiện tranh chấp gì. Nay do hai người anh trai của tôi nảy sinh lòng tham muốn chiếm đoạt nốt phần tài sản còn lại, nên họ ép tôi phải chấp nhận chỉ được 100m2 đất ở hiện tại còn không được đòi chia thêm đất vườn và đất nông nghiệp. Tôi không đồng ý, họ bèn làm đơn kiện xuống tòa án nhân dân huyện, đứng tên người kiện là mẹ tôi, nội dung đơn là đòi chia phần tài sản còn lại theo ý họ, nghĩa là tôi không có phần trong đó, hoặc nếu không sẽ thu hồi phần đất 100m2 đã đứng tên tôi để chia lại, họ còn nhờ 2 người con gái về nhận phần để rồi cho lại họ. Vậy tôi xin hỏi:
1. Nếu căn cứ theo luật dân sự thì tài sản đã cho không thể đòi lại được có phải không? Năm 2012 mẹ tôi cho tôi là vẫn nằm trong phần thừa kế của bà, nếu tính theo luật thì hiện tại vẫn còn 100m2 đất ở, nếu chia cho 2 người con gái thì vẫn còn phần của họ.
2. Nếu mẹ tôi đã tặng cho không thể đòi lại thì đơn kiện của bà, chính xác là bà bị ép đứng tên kiện tôi có sai luật không?
3. Tòa án có căn cứ vào điều khoản nào để thu hồi đất của tôi để chia lại được không? Đất đó tôi đã xây nhà từ lâu thì phải đền bù thế nào nếu họ chia lại được?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Theo như thông tin bạn cung cấp thì bố bạn mất có để lại khối tài sản gồm 400m2 đất ở; 1600m2 đất vườn; 4000m2 đất nông nghiệp. Khối tài sản này là tài sản riêng của bố bạn hay là tài sản chung vợ chồng. Nếu là tài sản riêng của bố bạn thì mẹ bạn không có quyền định đoạt với khối tài sản này. Do đó, việc tặng cho quyền sử dụng đất của mẹ bạn cho các con sẽ là giao dịch dân sự vô hiệu và theo đó hậu quả pháp lý là các bên khôi phục tình trạng ban đầu và trả cho nhau những gì đã nhận. Nếu khối tài sản này được hình thành trong thời kì hôn nhân thì mặc dù chỉ có tên của chồng nhưng vẫn là tài sản chung vợ chồng. Do đó, khi bố bạn chết mà không có di chúc thì di sản của bố bạn sẽ được chia theo pháp luật và di sản của ông lúc này sẽ chỉ là một nửa của khối tài sản trên. Một nửa còn lại sẽ thuộc quyền sở hữu của mẹ bạn. Mẹ bạn chỉ có quyền định đoạt số tài sản của mẹ bạn, còn phần tài sản của bố bạn sẽ được coi là di sản thừa kế và nó thuộc về những người thừa kế, bao gồm mẹ bạn, bạn và các anh chị em của bạn.
Tuy nhiên. do đây là khối tài sản chung của vợ chồng bố mẹ bạn do đó theo nguyên tắc thì mẹ bạn có quyền định đoạt phần tài sản của mẹ bạn nhưng không thể xác định được phần đất nào thuộc sở hữu của mẹ bạn nếu không làm thủ tục phân chia di sản. Theo đó việc tặng cho tài sản chỉ có thể được thực hiện sau khi những người thừa kế hợp pháp phần di sản của bố bạn, trong đó có mẹ bạn, các anh chị em của bạn và bạn, làm xong thủ tục phân chia di sản.
Thời hiệu thừa kế theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
Điều 623. Thời hiệu thừa kế
1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.
2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Do đó, khi có tranh chấp về thừa kế tài sản, thì những người thừa kế đều có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp quận/ huyện nơi có đất để yêu cầu chia di sản thừa kế và khi có yêu cầu thì tòa án sẽ xem xét yêu cầu đó đồng thời xác định di sản thừa kế của bố bạn để lại và chia di sản theo quy định của pháp luật nếu như các đồng thừa kế không tự thỏa thuận.
Về vấn đề thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chia thừa kế thì theo quy định của pháp luật, Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 như sau:
a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;
b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;
c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 3 thì: “Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai”.
Luật sư Nguyễn Thanh hà giải đáp nhưng thắc mắc liên quan đến quy định về con dấu doanh nghiệp hay giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong mục tư vấn pháp luật của kênh VITV. Trong chương trình Luật sư doanh nghiệp Kênh kinh tế tài chính VITV, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW đã có phần trả lời phỏng vấn về quyền tự chủ về con dấu của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, chúng tôi trân trọng giới thiệu nội dung này thông qua đoạn video sau:
Câu hỏi:Tôi là người quốc tịch Pháp nhưng gốc là người Việt Nam. Bố mẹ là người Việt sang Pháp sinh sống và làm ăn từ lâu. Trước khi sang Pháp, bố mẹ tôi có mua một căn nhà ở Việt Nam và đang cho cậu tôi là em của mẹ ở. Bố mẹ tôi đã mất được 1 năm, không để lại di chúc gì. Gần đây cậu tôi đã tự ý bán căn nhà đó. Cậu tôi cho rằng bố mẹ tôi mất thì nhà không có chủ nên có thể tự ý bán. Tôi muốn hỏi giờ tôi muốn kiện cậu tôi để đòi lại nhà có được không và nếu được thì phải gửi đơn đến Tòa án Việt Nam hay Pháp? Bố mẹ tôi vẫn giữ quốc tịch Việt Nam.
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Thứ nhất, con trai có được đòi tài sản của bố mẹ đã mất bị người khác bán không?
Căn cứ vào Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
Căn nhà là bất động sản thuộc lãnh thổ Việt Nam và bố mẹ bạn mang quốc tịch Việt Nam nên vụ việc này sẽ do Luật Việt Nam điều chỉnh. Theo thông tin bạn cung cấp, bố mẹ bạn mất không để lại di chúc nên phần di sản thừa kế là căn nhà sẽ được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên tài sản thừa kế sẽ được chia cho bạn và những người cùng hàng thừa kế khác nếu có. Bạn có quyền sở hữu đối với căn nhà này nên bạn hoàn toàn có quyền kiện người cậu vì hành vi bán tài sản không thuộc sở hữu của mình.
Thứ hai, Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết?
Điều 470Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về Thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam trong giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài như sau:
“1. Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
b) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;
c) Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam …”.
Theo thông tin bạn cung cấp, căn nhà của bố mẹ bạn mà người cậu bán đi bất hợp pháp là bất động sản trên lãnh thổ Việt Nam nên vụ tranh chấp ngôi nhà này sẽ thuộc về thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam. Vì vậy, bạn cần gửi đơn khởi kiện ra Tòa án ở Việt Nam để yêu cầu giải quyết vụ việc.
Luật sư Trần Trung Kiên từ công ty luật SBLAW đã có phần chia sẻ những kiến thức quan trọng về khởi nghiệp trong khuôn khổ buổi đào tạo tại Topica Founder Institue. Mời quý vị đón xem đoạn video sau:
Câu hỏi: Tôi là Phượng. Tôi có cho một người thuê nhà để mở spa. Hợp đồng có Công chứng ký thuê 05 năm với giá không thay đổi là 50 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên mới được 03 tháng thì xảy ra tranh chấp như:
-Sửa chữa cải tạo không có sự đồng ý của tôi;
– Trong hợp đồng ở Điều 3 ghi nhận: “Giá thuê nhà là 50.000.000đ/tháng (giá thuê nhà bao gồm các chi phí về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, điện, nước, điện thoại). Tuy nhiên kể từ lúc thực hiện hợp đồng cho tới nay, bên thuê nhà không thực hiện việc đóng thuế GTGT và thuế thu nhập cá nhân cho tôi như đã thỏa thuận trong hợp đồng.
– Sử dụng nhà không đúng mục thuê, theo giấy phép hành nghề là masaage, spa do UBND huyện cấp, nhưng thực tế bên thuê kinh doanh không đúng theo giấy phép mà hoạt động phẩu thuật thẩm mỹ chui. Cụ thể như cắt mí mắt, nâng mũi, bơm ngực, …
-Bên thuê nhà đã tự ý cho người lạ đến lưu trú mà không có sự đồng ý của tôi.
Bởi những hành vi sai trái nêu trên của spa, tôi đã có thông báo ngày 31/12/2017 cho bên thuê nhà về việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà, đến ngày 28/2/2018 phải tiến hành thanh lý hợp đồng để bàn giao nhà cho tôi đúng thời hạn. Nhưng cho đến nay hết ngày ấn định nêu trên, bên thuê nhà vẫn không chịu giải quyết thanh lý hợp đồng.
Như vậy khi tôi có đơn khởi kiện ra Tòa yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn thì tôi có phải bồi thường những chi phí gì cho bên thuê nhà không? và khoản tiền cọc của bên thuê nhà có bị mất cọc không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Về nguyên tắc, các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng sẽ được giải quyết theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng (các thỏa thuận không trái với các qui định của pháp luật), trường hợp các bên không có thỏa thuận thì sẽ áp dụng các qui định của pháp luật hiện hành.
Trong trường hợp của bạn, bạn không nói rõ trong hợp đồng thuê nhà có qui định về việc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và việc phạt hợp đồng hay không, vì vậy sẽ áp dụng các qui định của pháp luật như sau:
Điều 132 Luật Nhà ở năm 2014 có quy định về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở như sau:
Điều 132. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở
1. Trong thời hạn thuê nhà ở theo thỏa thuận trong hợp đồng, bên cho thuê không được đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà và thu hồi nhà ở đang cho thuê, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Bên cho thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà và thu hồi nhà ở đang cho thuê khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Bên cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, nhà ở xã hội cho thuê không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không đúng điều kiện theo quy định của Luật này;
b) Bên thuê không trả tiền thuê nhà ở theo thỏa thuận từ 03 tháng trở lên mà không có lý do chính đáng;
c) Bên thuê sử dụng nhà ở không đúng mục đích như đã thỏa thuận trong hợp đồng;
d) Bên thuê tự ý đục phá, cơi nới, cải tạo, phá dỡ nhà ở đang thuê;
đ) Bên thuê chuyển đổi, cho mượn, cho thuê lại nhà ở đang thuê mà không có sự đồng ý của bên cho thuê;
e) Bên thuê làm mất trật tự, vệ sinh môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt của những người xung quanh đã được bên cho thuê nhà ở hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc lập biên bản đến lần thứ ba mà vẫn không khắc phục;
g) Thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 129 của Luật này.
3. Bên thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở khi bên cho thuê nhà ở có một trong các hành vi sau đây:
a) Không sửa chữa nhà ở khi có hư hỏng nặng;
b) Tăng giá thuê nhà ở bất hợp lý hoặc tăng giá thuê mà không thông báo cho bên thuê nhà ở biết trước theo thỏa thuận;
c) Khi quyền sử dụng nhà ở bị hạn chế do lợi ích của người thứ ba.
4. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở phải thông báo cho bên kia biết trước ít nhất 30 ngày, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; nếu vi phạm quy định tại khoản này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp của bạn, bên thuê nhà đã không thực hiện đúng hợp đồng, sử dụng nhà không đúng mục đích thuê, vì vậy theo qui định trên bạn có quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Bạn cũng đã thực hiện đúng qui định về thời hạn báo trước (từ ngày 31/12/2017 đến ngày 28/2/2018). Do đó, nếu bên thuê nhà không thực hiện việc chấm dứt hợp đồng, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết. Vì bạn đã thực hiện việc chấm dứt hợp đồng theo đúng các qui định của pháp luật nên bạn không phải bồi thường thiệt hại cho bên thuê.
Về khoản tiền đặt cọc, việc xử lí sẽ được thực hiện theo thỏa thuận ban đầu, tùy thuộc vào mục đích đặt cọc để đảm bảo giao kết hợp đồng hay đảm bảo việc thực hiện hợp đồng.
Trong chương trình Luật sư doanh nghiệp của Kênh truyền hình kinh tế tai chính VITV, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật S&B Law, cùng với các chuyên gia đã trao đổi về chế định Phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Việt Nam. Mời quý vị đón xem đoạn video sau đây:
Câu hỏi: Tôi là Khanh, ở Hà Nội. Tôi đang làm việc cho công ty dịch vụ, vị trí nhân viên kinh doanh. Tôi làm theo loại hình bán thời gian, không có ký hợp đồng lao động, chỉ làm việc dựa vào thỏa thuận qua email và đã làm việc từ 01/12/2017. Do sai phạm trong quá trình làm việc, công ty đã đơn phương chấm dứt thỏa thuận với tôi. Vào ngày 30/3/2018, sau khi họp với tôi và xác nhận tôi có sai phạm, yêu cầu tôi không được vào công ty nữa. Công ty đang trì hoãn việc thanh toán tiền lương và các quyền lợi liên quan cho tôi vì lý do là tôi sai phạm. Mặc dù việc thanh toán tiền lương đã có thỏa thuận giữa 2 bên thông qua email, nhưng giám đốc của tôi bảo rằng sẽ xem xét việc thanh toán lương cho tôi theo cảm tính chứ không theo như thỏa thuận giữa 2 bên. Trong trường hợp này tôi phải làm gì?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Điều 16 Bộ luật lao động năm 2012` quy định:
“Điều 16. Hình thức hợp đồng lao động
1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói”.
Bạn bắt đầu làm việc từ 01/12/2017 đến 30/3/2018 đã quá 3 tháng mà bạn và công ty không ký HĐLĐ tức là đã vi phạm pháp luật.
Bây giờ phía công ty không muốn làm theo thỏa thuận như ban đầu và không muốn thanh toán tiền lương cho bạn thì bạn có thể giải quyết theo tranh chấp lao đông cá nhân. Trình tự, thủ tục quy định tại Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012 như sau:
“Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động
1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.
đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.
3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.
Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.
Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.
Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.
Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.
Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.
4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết”.
Vì bạn không nói rõ nên chúng tôi không biết chính xác thời điểm mà phía bên công ty thông báo sẽ không thanh toán tiền lương theo thỏa thuận ban đầu mà thanh toán theo cảm tính là khi nào nhưng bạn chỉ có thể yêu cầu giải quyết khi còn thời hiệu. Bộ luật lao động năm 2012 quy định:
“Điều 202. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”.
Nếu hết thời hiệu trên thì bạn không thể yêu cầu giải quyết được nữa.
Bộ tài chính dự thảo đề xuất một số giải pháp thuế nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa. Trong đó có việc đề cập giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống mức 15 – 17%. Mời quý vị đón xem đoạn video sau:
Câu hỏi: Tôi là Bình, ở tỉnh X. Xã tôi có trường hợp thực hiện dự án thu hồi đất đối ứng làm đường giao thông nông thôn. Sau khi dự án được phê duyệt và có quyết định thu hồi đất đến các hộ và sau khi thỏa thuận, thống nhất với nhà đầu tư, hộ dân A đã nhận tiền đền bù. Tuy nhiên, 3 ngày sau đó, hộ dân A này lại thay đổi ý kiến và không đồng ý với mức tiền hỗ trợ trên và nói rằng: Nhận tiền tại nhà, lúc say rượu. Xin hỏi quý công ty: Trường hợp này giải quyết như thế nào? Thẩm quyền thuộc về cơ quan nào?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Theo thông tin bạn cung cấp, hộ dân A không đồng ý với mức tiền hỗ trợ và cho rằng lúc nhận tiền đang trong tình trạng say rượu. Trước hết, trong trường hợp này các bên sẽ tiến hành tự hoà giải theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 như sau:
Điều 202 Hoà giải tranh chấp đất đai
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Nếu các bên hoà giải không thành, sẽ tiến hành làm đơn gửi lên Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để được xem xét và giải quyết. Trường hợp đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
Căn cứ Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì:
Điều 203 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.
Như vậy, trường hợp có đầy đủ giấy tờ thì một trong hai bên có thể làm đơn khởi kiện gửi lên tòa án nhân dân yêu cầu tòa giải quyết, và khi gửi lên tòa thì mỗi bên trong vụ án sẽ là đương sự. Còn nếu trường hợp không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ giải quyết theo quy định tại Khoản 2 Điều luật nêu trên.
Vừa qua, một số trường hợp cá nhân, tổ chức có hành vi gièm pha, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bằng các công cụ mạng xã hội gây xôn xao dư luận lại một lần nữa làm nóng lên câu chuyện về cạnh tranh không lành mạnh. Vậy, pháp luật quy định như thế nào về hành vi cạnh tranh không lành mạnh? Tình hình cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam đang diễn biến ra sao? Tất cả sẽ được luật sư từ SBLAW và chuyên gia từ Cục quản lý cạnh tranh bình luận và làm rõ trong chương trình “Kinh doanh và Pháp luật” phát sóng trên VTV2 với chủ đề: “Cạnh tranh không lành mạnh”. Sau đây là đoạn video liên quan đến vấn đề này. Mời quý vị đón xem:
Câu hỏi: Mình là Dũng. Mình hiện đang là du học sinh Hàn Quốc. Cách đây vài tháng, mình có cho người bạn mình vay tiền vì cùng là du học sinh và là bạn thân nên mình mới đồng ý. Bố mình đã đi gửi cho bố của người bạn ấy với số tiền là hơn 100 triệu đồng, bạn ấy hứa sẽ trả mình trong vài ngày bằng tiền Hàn nhưng hiện tại đến bây giờ bạn ấy vẫn chưa hề trả và đưa ra đủ mọi lý do để chối. Bố mình rất tức giận vì gọi điện cho bố bạn ấy không liên lạc được. Bây giờ là hơn 4 tháng rồi nếu mình muốn kiện người bạn này thì có được không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Về trách nhiệm dân sự, theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Theo đó, khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.”
Và Khoản 1 Điều 119 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về hình thức của giao dịch dân sự:
“Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.”
Căn cứ vào quy định nêu trên, mặc dù việc cho mượn tiền của bạn không được lập thành văn bản nhưng có thể xem là bạn và người bạn đã giao kết hợp đồng vay mượn tiền bằng lời nói. Việc này cũng được bạn của bạn thừa nhận nợ và hẹn ngày trả, giờ đã quá hạn trả tiền hơn 4 tháng là bạn của bạn đã vi phạm quy định pháp luật về nghĩa vụ của bên vay tiền, vì thế bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện để thu hồi số tiền đã cho vay.
Về thẩm quyền giải quyết, theo khoản 1 Điều 664 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
Điều 664. Xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam.
Theo đó, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cũng được Bộ luật Dân sự năm 2015 giải thích tại khoản 2 Điều 663 như sau:
2. Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
Theo như bạn trình bày, cả hai bạn đều là người Việt Nam đang cư trú tại nước ngoài, như vậy, đối chiếu theo quy định tại điều luật nêu trên thì đây cũng được xác định là một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Và theo quy định tại khoản 1 Điều 664 Bộ luật trên thì trường hợp này sẽ được áp dụng giải quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam. Theo đó, bạn hoàn toàn có thể làm đơn khởi kiện buộc người vay tài sản phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ tới cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam.
Căn cứ khoản 1,2,3 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì:
Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;
b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;
c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.
2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:
a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này;
b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này;
c) Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ luật này;
d) Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này.
3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.
Như vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, bạn có thể khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của gia đình người bạn để yêu cầu giải quyết. Và trường hợp này, để thuận lợi cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ khi thực hiện khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì bạn có thể ủy quyền cho bố của bạn, trường hợp này bạn phải lập hợp đồng ủy quyền, trong đó nêu rõ phạm vi ủy quyền là để bố bạn thực hiện thay bạn các thủ tục trên. Theo đó, trong hồ sơ khởi kiện cần có:
– Đơn khởi kiện (theo mẫu);
– Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;
– Hợp đồng ủy quyền giữa bạn và chị bạn;
– Các giấy tờ của bố bạn như: giấy CMND, sổ hộ khẩu (có công chứng hoặc chứng thực).
Về trách nhiệm hình sự, tùy thuộc vào hành vi vi phạm mà người bạn của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong chuyên mục Bạn và pháp luật kênh VOV1 – Đài tiếng nói Việt Nam, luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW có trao đổi với khán thính giả về chủ đề nguyên nhân tranh chấp đất đai trong cộng đồng dân cư. Sau đây là đoạn video về vấn đề này. Mời quý vị đón xem: