Câu hỏi:Năm 2015, công ty mình có ký hợp đồng với một công ty X về thi công trần cho một dự Án (công ty X ký hợp đồng với Y, Y ký với chủ đầu tư). Hạng mục đã hoàn thiện xong đầu năm 2016. Bên công ty X cũng đã xác nhận khối lượng và cũng ký xong hết hồ sơ quyết toán vào năm 2016. Nhiều lần X đã thanh toán cho công ty mình nhưng vẫn còn nợ 50 triệu đồng (theo hồ sơ thanh toán). Cách đây một tháng, mình qua công ty X đòi tiền thì họ bảo công ty Y báo do đoàn kiểm toán trừ khối lượng nên không trả tiền cho công ty mình. Xin hỏi: Công ty mình phả làm gì?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Chế tài trong thương mại là biện pháp áp dụng khi một bên trong hợp đồng không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Điều 292 Luật thương mại năm 2005 quy định về các loại chế tài trong thương mại
1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
2. Phạt vi phạm.
3. Buộc bồi thường thiệt hại.
4. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
5. Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
6. Huỷ bỏ hợp đồng.
7. Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.
Các biện pháp chế tài này được áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra và không thuộc các trường hợp miễn trừ theo Điều 294 của Luật này.
Theo quy định tại điều 297 Luật thương mại 2005:
“1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh” thì khi bên X vi phạm về điều khoản thanh toán trước tiên bạn cần xem xét xem việc vi phạm đó có thuộc trường hợp miễn trừ nghĩa vụ không nếu không thì gửi thông báo yêu cầu bên mua thực hiên đúng nghĩa vụ về điều khoản thanh toán và đưa ra một thời hạn nhất định nếu hết thời hạn đó mà bên X không thực hiện nghĩa vụ thì bạn có thể làm đơn yêu cầu tòa án nhân dân cấp huyện nơi bên mua cư trú yêu cầu giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Dưới đây là video Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê nhà:
Câu hỏi: Tôi là Hà An, quý công ty có thể phân biệt giúp tôi hợp đồng lao động với hợp đồng dân sự không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Về sự giống nhau giữa 2 loại hợp đồng trên thì: cả 2 loại hợp đồng này đều mang tính chất thỏa thuận giữa 2 bên chủ thể giao kết hợp đồng với nhau (nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật) về nội dung của hợp đồng. Khi ký kết hợp đồng các bên cũng phải đáp ứng các điều kiện nhất định về nhân thân (đủ năng lực hành vi dân sự, đúng thẩm quyền).
-Về sự khác nhau:
+ Đối với hợp đồng lao động: trong hợp đồng lao động có sự phụ thuộc pháp lý giữa người lao động với người sử dụng lao động, đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả công, hợp đồng lao động do đích danh người lao động thực hiện, trong hợp đồng lao động sự thỏa thuận của các bên thường không bị khống chế bởi những giới hạn pháp lý nhất định, hợp đồng lao động được thực hiện trong thời gian nhất định hay vô hạn định,
+ Đối với hợp đồng dân sự: đây là một khái niệm chung chỉ chung cho các loại hợp đồng phát sinh trong quan hệ dân sự (hợp đồng mua bán, vay mượn, cho thuê, lao động, …), đối tượng của hợp đồng này sẽ là một công việc nhất định, 2 bên chủ thể trong hợp đồng sẽ phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật trong việc ký kết, thỏa thuận về các nội dung của hợp đồng. Trong hợp đồng này sẽ không có sự phụ thuộc pháp lý giữa các bên như trong hợp đồng lao động mà sẽ chỉ là sự ràng buộc nghĩa vụ nhất định của các bên với nhau khi thực hiện hợp đồng và thường hợp đồng dân sự sẽ có một khoảng thời gian thực hiện nhất định và không phải là vô hạn định như đối với hợp đồng lao động.
Trong chương trình Luật sư doanh nghiệp của Kênh truyền hình kinh tế tai chính VITV, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật S&B Law, cùng với các chuyên gia đã trao đổi về chế định hợp đồng thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam:
Câu hỏi: Hiện nay gia đình mình muốn làm sổ đỏ mà bố mình vừa mất. Gia đình mình còn bà nội, mẹ mình, chị gái mình và mình. Nhà mình đã làm đầy đủ các thủ tục theo yêu cầu của cơ quan hành chính công. Người ta yêu cầu phải có chữ ký từ chối quyền thừa kế của bà nội mình nhưng giờ bà nội mình đã lẩm cẩm và không nhớ gì thì phải làm sao?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Theo như thông tin bạn cung cấp, bố bạn mất, gia đình bạn còn bạn, chị gái bạn, mẹ và bà nội, di sản của bố bạn sẽ được phân chia như sau:
– Không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thì di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật theo quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.
Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định Người thừa kế theo pháp luật như sau:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
Nếu trong trường hợp không có di chúc thì di sản thừa kế sẽ chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Bố bạn mất không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, phần di sản của bố bạn sẽ được chia đều cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất của bố bạn gồm: các con (bạn và anh trai), vợ và mẹ.
– Bố bạn có để lại di chúc, di chúc hợp pháp.
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản. Nếu bố bạn khi mất có để lại di chúc thì những người có tên trong di chúc sẽ được hưởng phần tài sản tương ứng với nội dung trong di chúc.
Từ chối nhận di sản thừa kế là hành vi thể hiện ý chỉ của cá nhân khi được nhận tài sản hợp pháp từ người khác để lại. Căn cứ theo Điều 620 Bộ luật dân sự 2015 quy định về trường hợp từ chối nhận di sản thừa kế:
“1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.
3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản”.
Trường hợp từ chối nhận di sản thừa kế, cá nhân làm văn bản xác nhận gửi Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn.
Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người bị bệnh tâm thần, hoặc các bệnh khác dẫn đến tình trạng không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan sẽ yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Nếu trong trường hợp do tình trạng thể chấp hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền và nghĩa vụ của người giám hộ.
Theo thông tin bạn cung cấp, bà của bạn hiện tại bị lẩm cẩm, không có khả năng nhận thức về hành vi, bố bạn mất, nếu bà không còn con đẻ thì Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Tòa án sẽ cử người giám hộ theo quy định Bộ luật dân sự 2015 về cử, chỉ định người giám hộ:
“1. Trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ”.
Như vậy, người giám hộ theo theo pháp luật của bà bạn, sẽ dựa trên ý chí của bà tại thời điểm yêu cầu để ký xác nhận vào văn bản từ chối nhận di sản thừa kế. Tuy nhiên, trong trường hợp giao dịch dân sự đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý bằng văn bản của người giám sát việc giám hộ. Theo đó, việc từ chối nhận di sản thừa kế của bà bạn mà có giá trị lớn thì ngoài việc do người giám hộ thực hiện còn phải được sự đồng ý của người được giám hộ.
Luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW đã có phần trao đổi về Những điểm mới của chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự trong chương trình Bạn và pháp luật, kênh VOV1, Đài tiếng nói Việt Nam. Mời quý vị đón xem:
Câu hỏi: Tôi là Hiền. Tôi có mua 1 mảnh đất thuộc 1 dự án, nhưng sau đó dự án đó không thể triển khai được, và đã được thành phố cho phân lô bán nền. Trong sổ đỏ có ghi thời gian sử dụng: 15/12/2058. Mục ghi chú có ghi: Người nhận chuyển quyền sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất ổn định lâu dài. Vậy cho tôi hỏi, các thủ tục để tôi có thể chuyển đổi thời gian sử dụng 15/12/2058 thành sử dụng lâu dài ghi trong sổ đỏ thành lâu dài?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Hiện tại, quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn không có quy định về việc chuyển đổi thời gian sử dụng đất từ đất có thời hạn sang đất sử dụng lâu dài, chỉ có quy định về thời hạn sử dụng đất sau khi chuyển mục đích sử dụng đất được quy định cụ thể tại Điều 127 Luật đất đai năm 2013:
“Điều 127. Thời hạn sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất
1. Thời hạn sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất được quy định như sau:
a) Trường hợp chuyển đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang sử dụng vào mục đích khác thì thời hạn được xác định theo thời hạn của loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng. Thời hạn sử dụng đất được tính từ thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
b) Trường hợp chuyển đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối sang trồng rừng phòng hộ, trồng rừng đặc dụng thì hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất ổn định lâu dài;
c) Trường hợp chuyển mục đích sử dụng giữa các loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất đó theo thời hạn đã được giao, cho thuê.
Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nhưng không quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật này nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng;
d) Trường hợp chuyển đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì thời hạn sử dụng đất được xác định theo thời hạn của loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng. Thời hạn sử dụng đất được tính từ thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;
đ) Trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ đất phi nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài sang đất phi nông nghiệp sử dụng có thời hạn hoặc từ đất phi nông nghiệp sử dụng có thời hạn sang đất phi nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài thì hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất ổn định lâu dài.
2. Thời hạn sử dụng đất đối với tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư không thuộc khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao khi chuyển mục đích sử dụng đất được xác định theo dự án đầu tư quy định tại khoản 3 Điều 126 của Luật này.
3. Tổ chức kinh tế chuyển mục đích sử dụng từ đất phi nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài sang đất phi nông nghiệp sử dụng có thời hạn hoặc từ đất phi nông nghiệp sử dụng có thời hạn sang đất phi nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài thì tổ chức kinh tế được sử dụng đất ổn định lâu dài”.
Như vậy, có thể sử dụng vĩnh viễn lâu dài sau khi chuyển đổi đất có thời hạn hay không còn phụ thuộc vào loại đất hiện tại bạn đang sử dụng.
Căn cứ theo Điều 69 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Điều 6 Thông tư 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất
– Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất (theo mẫu)
– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện
Nơi nộp hồ sơ: Phòng tài nguyên môi trường cấp quận/huyện
Thời gian giải quyết: 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ.
Trong chuyên mục đối thoại nóng của bản tin địa ốc 24h, luật sư Nguyễn Thanh Hà đã trao đổi về đất dịch vụ, nguyên nhân giao đất chậm và những giải pháp đặt ra:
Câu hỏi: Tôi là Phụng, ở Hà Nội. Qúy công ty cho tôi hỏi việc mua bán chứng minh nhân dân có hợp pháp không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Theo Điều 1 Văn bản hợp nhất 03/VBHN-BCA hợp nhất Nghị định về chứng minh nhân dân thì chứng minh nhân dân là một loại giấy tờ tùy thân, để nhận dạng đặc điểm riêng biệt của mỗi công dân. Do đó, chứng minh nhân dân dưới góc độ dân sự chứng minh thư gắn liền với quyền nhân thân không thể chuyển giao của mỗi công dân.
Chứng minh nhân dân quy định tại Nghị định này là một loại giấy tờ tùy thân của công dân do cơ quan Công an có thẩm quyền chứng nhận về những đặc điểm riêng và nội dung cơ bản của mỗi công dân trong độ tuổi do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm thuận tiện việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân trong đi lại và thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam.
Pháp luật có quy định về việc cấm cho thuê, cho mượn, cầm cố, thế chấp, … chứng minh nhân dân.
Điều 7 Văn bản hợp nhất 03/VBHN-BCA quy định như sau:
1. Công dân được sử dụng Chứng minh nhân dân của mình làm chứng nhận nhân thân và phải mang theo khi đi lại, giao dịch; xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, kiểm soát. Số Chứng minh nhân dân được dùng để ghi vào một số loại giấy tờ khác của công dân.
2. Nghiêm cấm việc làm giả, tẩy xóa, sửa chữa, cho thuê, cho mượn, thế chấp… Chứng minh nhân dân.
Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định rõ ràng, nghiêm cấm hành vi ” mua bán” chứng minh nhân dân. Xét dưới góc độ khoa học, “mua, bán” là việc chuyển quyền sở hữu của chủ sở hữu/người có quyền bán cho người khác. Do đó, việc “mua, bán” một lọai giấy tờ do cơ quan nhà nước cấp nhằm xác định đặc điểm nhận dạng của cá nhân không có tính chất chuyển quyền sở hữu từ chủ thể này sang chủ thể khác. Xét dưới góc độ pháp luật dân sự, Bộ luật dân sự 2015 chỉ quy định về hợp đồng mua bán tài sản. Như vậy, nếu không xét đến giá trị thô – là một tấm thẻ bình thường thì chứng minh nhân dân (theo quan điểm cá nhân) không có giá trị lưu thông và không được coi là một loại tài sản được quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự 2015.
Việc mua bán giấy tờ tùy thân tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Người có tên trên giấy tờ nhân thân có khả năng dính vào các phiền toái khi người mua dùng giấy tờ tùy thân này để thực hiện các giao dịch dân sự hoặc thực hiện các hành vi trái pháp luật.
Theo Khoản 2 và Khoản 4 Điều 9 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì:
– Hành vi thuê, mượn hoặc cho người khác thuê, mượn chứng minh nhân dân để thực hiện hành vi trái pháp luật bị xử phạt từ 1 đến 2 triệu đồng.
– Hành vi thế chấp chứng minh nhân dân để thực hiện hành vi trái pháp luật biọ xử phạt từ 4 đến 6 triệu đồng.
Như vậy, thiết nghĩ pháp luật cần bổ sung những quy định cụ thể về hành vi mua, bán chứng minh nhân dân để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi công dân.
Công ty Luật TNHH SBLaw – Tư vấn luật chuyên nghiệp. Dưới đây là video:
Câu hỏi: Công ty tôi muốn được cấp phép hoạt động cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử. Xin hỏi: Công ty tôi phải đáp ứng điều kiện gì?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Theo khoản 1 điều 63 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 08/2018) quy định về Điều kiện cấp phép hoạt động cho thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử như sau:
Yêu cầu về chủ thể:
– Là thương nhân, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam, có chức năng, nhiệm vụ phù hợp;
– Có đề án chi tiết cho hoạt động cung cấp dịch vụ được Bộ Công Thương thẩm định.
Bộ Công Thương quy định cụ thể yêu cầu về tài chính và kỹ thuật đối với thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử.
Theo Khoản 3 Điều 63 Nghị định này quy định về Nghĩa vụ của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử như sau:
a) Chịu trách nhiệm về tính bảo mật và toàn vẹn của các chứng từ điện tử mà mình lưu trữ và chứng thực;
b) Cung cấp tài liệu và hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước điều tra các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến chứng từ điện tử mà mình lưu trữ và chứng thực;
c) Trước ngày 15 tháng 01 hàng năm, báo cáo Bộ Công Thương về tình hình cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử của năm trước đó.
Trong chương trình luật sư doanh nghiệp, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch công ty luật SBLAW đã có bài trả lời phỏng vấn về bải bỏ Giấy phép con theo Luật đầu tư năm 2014. Mời quý vị đón xem:
Câu hỏi: Tôi là Hoàng. Tôi đang làm việc cho một công ty nước ngoài tại thành phố Hồ Chí mInh, Việt Nam. Công ty tôi làm nhiều về lĩnh vực sản xuất. Được biết năm 2018, có một số thay đổi thì quý công ty có thể cho tôi biết doanh nghiệp tôi có được xuất nhập khẩu tại chỗ không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB Law cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Trong quá trình thực hiện Luật Quản lý ngoại thương và Nghị định số 09/2018/NĐ-CP ngày 15/1/2018 của Chính phủ, Cục Hải quan TP.HCM cho biết đã phát sinh nhiều vướng mắc liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Hiện nay, Cục Hải quan TP.HCM đã phát sinh nhiều trường hợp tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp quyền xuất khẩu đề nghị được thực hiện hoạt động xuất khẩu tại chỗ hàng hóa DN mua tại Việt Nam, hoặc hàng hóa DN nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 09/2018/NĐ-CP quy định:
Điều 7. Thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa
1. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền xuất khẩu, được xuất khẩu: Hàng hóa mua tại Việt Nam; hàng hóa do tổ chức kinh tế đó đặt gia công tại Việt Nam và hàng hóa nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam ra nước ngoài và khu vực hải quan riêng, theo các điều kiện sau:
a) Hàng hóa xuất khẩu không thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu; danh mục hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu; danh mục hàng hóa không được quyền xuất khẩu trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
b) Đối với hàng hóa xuất khẩu thuộc danh mục hàng hóa xuất khẩu theo giấy phép, theo điều kiện, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải có giấy phép hoặc đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền nhập khẩu, được nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài và khu vực hải quan riêng vào Việt Nam, theo các điều kiện sau:
a) Hàng hóa nhập khẩu không thuộc danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu; danh mục hàng hóa tạm ngừng nhập khẩu; danh mục hàng hóa không được quyền nhập khẩu trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
b) Đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục hàng hóa nhập khẩu theo giấy phép, theo điều kiện, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải có giấy phép hoặc đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
3. Thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa để thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu thực hiện theo quy định pháp luật về quản lý xuất nhập khẩu.
4. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền phân phối bán buôn, quyền phân phối bán lẻ, được bán buôn, bán lẻ hàng hóa sản xuất tại Việt Nam và hàng hóa nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam.
5. Đối với lĩnh vực đầu tư kinh doanh có điều kiện, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện hoạt động kinh doanh khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Trường hợp tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền xuất khẩu chỉ được xuất khẩu hàng hóa mua tại Việt Nam; Hàng hóa do tổ chức kinh tế có đặt gia công tại Việt Nam và hàng hóa nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam ra nước ngoài hoặc khu vực hải quan riêng, không có quy định cụ thể cho trường hợp xuất khẩu tại chỗ cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Chính vì thế, đối với trường hợp này, Cục Hải quan TP.HCM không đủ căn cứ pháp luật để giải quyết thủ tục xuất khẩu tại chỗ cho DN.
Bên cạnh đó, Cục Hải quan TP.HCM cho rằng, Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 và Nghị định số 09/2018/NĐ-CP đều không có nội dung điều chỉnh hoạt động XNK tại chỗ của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Gần đây, Cục Hải quan TP.HCM tiếp nhận công văn số 130/XNK-CN ngày 31/1/2018 của Cục XNK (Bộ Công Thương) trả lời về việc xuất khẩu tại chỗ của DN nước ngoài.
Theo hướng dẫn này, liên quan đến hàng hóa được xuất khẩu tại chỗ, Cục XNK dẫn chiếu Điều 32 Nghị định 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 và điểm C Khoản 3 Mục II Thông tư số 04/2007/TT-BTM để giải thích và hướng dẫn cho DN.
Tuy nhiên, Nghị định số 108/2006/NĐ-CP đã hết hiệu lực và được thay thế bằng Nghị định 118/2015/NĐ-CP, nên Thông tư 04/2007/TT-BTM cũng đồng thời hết hiệu lực theo quy định tại Khoản 4 Điều 154 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13.
Như vậy, hiện nay chưa có văn bản quy định cụ thể hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ và hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ của Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong chương trình Luật sư doanh nghiệp của kênh VITV, luật sư Nguyễn Thanh Hà, luật sư điều hành của S&B Law sẽ trả lời biên tập viên Thành Phương về các vấn đề xoay quanh việc thành lập doanh nghiêp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam:
Câu hỏi: Tôi là Minh, là Giám đốc Công ty TNHH với 2 thành viên, với vốn điều lệ là 15 tỷ đồng; hiện nay tôi đi làm thủ tục bổ sung thêm 01 thành viên đồng thời tăng vốn điều lệ công ty lên 25 tỷ đồng. Tuy nhiên Phòng Đăng ký kinh doanh tỉnh X yêu cầu phải chứng minh được số vốn đã góp thêm vào công ty như: tiền, máy móc, phương tiện, … hoặc đã có trong tài khoản ngân hàng của Công ty tương đương 10 tỷ đồng. Vậy cho tôi hỏi việc chứng minh vốn bổ sung này có bắt buộc không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Trường hợp của bạn là Công ty TNHH với hai thành viên, căn cứ Khoản 1 Điều 45 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký thay đổi thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên:
1. Trường hợp tiếp nhận thành viên mới, công ty gửi Thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký. Nội dung Thông báo gồm:
a) Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuế hoặc số Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trường hợp doanh nghiệp chưa có mã số doanh nghiệp, mã số thuế);
b) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính đối với thành viên là tổ chức; họ, tên, quốc tịch, số Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu hoặc chứng thực cánhân hợp pháp khác quy định tại Điều 10 Nghị định này đối với thành viên là cá nhân; giá trị vốn góp và phần vốn góp, thời điểm góp vốn, loại tài sản góp vốn, số lượng và giá trị của từng loại tài sản góp vốn của các thành viên mới;
c) Phần vốn góp đã thay đổi của các thành viên sau khi tiếp nhận thành viên mới;
d) Vốn điều lệ của công ty sau khi tiếp nhận thành viên mới;
đ) Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty.
Kèm theo Thông báo phải có:
– Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng thành viên về việc tiếp nhận thành viên mới;
– Giấy tờ xác nhận việc góp vốn của thành viên mới của công ty;
– Bản sao hợp lệ quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác, bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này của người đại diện theo ủy quyền và quyết định ủy quyền tương ứng đối với thành viên là tổ chức hoặc bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này của thành viên là cá nhân;
Quyết định, biên bản họp của Hội đồng thành viên phải ghi rõ những nội dung được sửa đổi trong Điều lệ công ty.
Khi nhận Thông báo, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.
Như vậy, việc chứng minh vốn bổ sung bằng các giấy tờ xác nhận việc góp vốn của thành viên mới của công ty là bắt buộc theo pháp luật. Ngoài ra, thông báo tiếp nhận thành viên mới của công ty cần có đầy đủ nội dung theo Khoản 1 Điều 45 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP.
Nhận lời mời trả lời phỏng vấn của kênh truyền hình VITV, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch, luật sư điều hành SB Law đã trao đổi một số nội dung về ngành nghề đăng ký kinh doanh trong doanh nghiệp, những bất cập và phương hướng giải quyết:
Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW đã trả lời trên Truyền hình quốc hội trong Chương trình Hiểu Đúng – Làm Đúng về tình huống Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, sẽ bị xử lý như thế nào?
Tình huống: Anh Trọng với anh Tài hành nghề ăn trộm gỗ và trong một lần rủ nhau đi cưa trộm cây sưa, anh Tài và anh Trọng bị bắt, người nhà anh Trọng phải tìm đến luật sư xin tư vấn.
Luật sư tư vấn:
Thứ nhất, về hành vi trộm gỗ sưa của anh Trọng và Tài
Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) có quy định về Tội trộm cắp tài sản như sau:
““1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
đ) Tài sản là di vật, cổ vật.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Tài sản là bảo vật quốc gia;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Xét hành vi của anh Trọng và anh Tài đó là đi trộm cây sưa có giá trị lên đến hàng tỷ đồng, theo quy định trên anh Trọng và anh Tài có thể bị truy cứu hình sự về Tội trộm cắp tài sản với mức phạt là phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Ngoài ra, anh Trọng và anh Tài còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Thứ hai, về hành vi của anh Thắng và chị Hoa
Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) có quy định về Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau:
“1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
d) Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm:
a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
b) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Trong trường hợp này, nếu anh Thắng và chị Hoa không hứa hẹn trước mà tiêu thụ tài sản biết rõ là do anh Tài và anh Trọng phạm tội mà có thì anh Thắng và chị Hoa có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm về Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Theo đó, mức phạt trong trường hợp này là phạt tù từ 10 năm đến 15 năm, ngoài ra còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Ngược lại, nếu biết số lượng tài sản trên do người khác trộm cắp mà có và có sự hứa hẹn trước sẽ tiêu thụ và sử dụng hàng hóa hoặc tài sản trộm cắp nhằm củng cố thêm hành vi cho người thực hiện hành vi trộm cắp thì hành vi của anh Thắng và chị Hoa sẽ được xác định là hành vi đồng phạm với vai trò là người giúp sức và sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Trong chương trình hiểu đúng làm đúng truyền hình quốc hội, luật sư Nguyễn Thanh Hà đã tư vấn về hành vi trộm cắp. Mời quý vị đón xem tại đây:
Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW đã trả lời trên Truyền hình quốc hội trong Chương trình Hiểu Đúng – Làm Đúng về tình huống Quyền hạn xe ưu tiên khi tham gia giao thông.
Tình huống: Chị Hoa với chị Thanh sau khi thi bằng lái đã rủ nhau đi dã ngoại, tuy nhiên khi tham gia giao thông trên đường cao tốc, chị Thanh đã không chịu nhường đường cho xe cứu hỏa đi ngược chiều và bị công an mời lên phường để giải quyết.
Luật sư tư vấn:
Thứ nhất, quy định về xe được quyền ưu tiên:
Điều 22 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định như sau:
“Điều 22. Quyền ưu tiên của một số loại xe
1. Những xe sau đây được quyền ưu tiên đi trước xe khác khi qua đường giao nhau từ bất kỳ hướng nào tới theo thứ tự:
a) Xe chữa cháy đi làm nhiệm vụ;
b) Xe quân sự, xe công an đi làm nhiệm vụ khẩn cấp, đoàn xe có xe cảnh sát dẫn đường;
c) Xe cứu thương đang thực hiện nhiệm vụ cấp cứu;
d) Xe hộ đê, xe đi làm nhiệm vụ khắc phục sự cố thiên tai, dịch bệnh hoặc xe đi làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật;
đ) Đoàn xe tang.
2. Xe quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này khi đi làm nhiệm vụ phải có tín hiệu còi, cờ, đèn theo quy định; không bị hạn chế tốc độ; được phép đi vào đường ngược chiều, các đường khác có thể đi được, kể cả khi có tín hiệu đèn đỏ và chỉ phải tuân theo chỉ dẫn của người điều khiển giao thông.
Chính phủ quy định cụ thể tín hiệu của xe được quyền ưu tiên.
3. Khi có tín hiệu của xe được quyền ưu tiên, người tham gia giao thông phải nhanh chóng giảm tốc độ, tránh hoặc dừng lại sát lề đường bên phải để nhường đường. Không được gây cản trở xe được quyền ưu tiên”.
Như vậy, theo quy định trên, xe cứu hỏa (xe chữa cháy) là xe được quyền ưu tiên và được phép đi vào đường ngược chiều. Khi có tín hiệu của xe được quyền ưu tiên thì người tham gia giao thông phải nhanh chóng giảm tốc độ, tránh hoặc dừng lại sát lề đường bên phải để nhường đường; không được gây cản trở xe được quyền ưu tiên.
Thứ hai, mức phạt ô tô không nhường đường cho xe ưu tiên đi làm nhiệm vụ:
Khoản 6 và Khoản 12 Điều 5 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định như sau:
“Điều 5. Xử phạt người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ
………………………………….
6.Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
…………………………………
d) Không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ;
12. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
…………………………………
b) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm h, Điểm i Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 4; Khoản 5; Điểm a, Điểm b, Điểm d Khoản 6; Điểm a, Điểm c Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng; …”.
Như vậy, theo quy định trên dẫn chiếu đến trường hợp của chị Thanh và chị Hoa; với hành vi không nhường đường cho xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ thì người điều khiển phương tiện (chị Thanh hoặc chị Hoa) sẽ bị áp dụng mức xử phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Ngoài ra, người điều khiển phương tiện còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng.
Luật sư Nguyễn Thanh Hà tư vấn về hành vi trả tiền lẻ của các tài xế tại các trạm BOT là có vi phạm pháp luật không? Mời quý vị đón xem tại đây:
Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW đã trả lời trên Truyền hình Quốc hội trong Chương trình Hiểu Đúng – Làm Đúng về tình huống Trách nhiệm của bên bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không trả tiền vay
Tình huống: Anh Trọng với anh Tài là bạn thân từ hồi còn khó khăn cho đến khi có chút thành công. Trong một lần làm ăn, cần huy động vốn, anh Tài đã thuyết phục anh Trọng đồng ý đứng ra bảo lãnh để mình vay tiền ngân hàng. Tuy nhiên, anh Tài vì làm ăn thua lỗ nên đã trốn nợ ngân hàng và phía ngân hàng đã tìm anh Trọng để bắt anh Trọng chịu trách nhiệm về tài sản mà anh Tài đã vay.
Luật sư tư vấn:
Quan hệ vay tiền là một quan hệ phổ biến hiện nay, tùy vào số tiền vay, bên cho vay sẽ yêu cầu bên vay phải thực hiện những biện pháp bảo đảm nhất định để bảo đảm rằng sẽ nhận lại được số tiền vay khi mà người vay tiền không có khả năng trả nợ. Bảo lãnh vay tiền là một trong số hình thức đó. Theo quy định tại Điều 335 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:
“Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
Như vậy, khi đã thực hiện bảo lãnh cho anh Tài thì anh Trọng đã thực hiện cam kết với bên cho vay tiền (ngân hàng) rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ trả tiền nếu khi đến hạn mà anh Tài không thể trả nợ. Đây là một ràng buộc pháp lý bởi một khi anh Trọng đã nhận bảo lãnh thì anh bắt buộc phải trả tiền nếu bên vay tiền không trả được nợ. Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định rõ về trách nhiệm của bên bảo lãnh như sau:
Điều 342. Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh
“1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại”.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, bảo lãnh là trường hợp một người/tổ chức nhận bảo lãnh nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh để đảm bảo rằng bên được bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ đó. Trong trường hợp bên được bảo lãnh không thể thực hiện nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện thay. Đây là một thỏa thuận dân sự, cho nên một khi các bên đã thỏa thuận và đồng ý với nhau thì phải thực hiện theo thỏa thuận đó. Việc anh Tài nói rằng anh Trọng chỉ cần đứng ra bảo đảm cho anh Tài vay tiền mà không phải chịu nghĩa vụ gì là sai. Anh Trọng vẫn phải chịu nghĩa vụ khi anh Tài không trả được tiền ngân hàng nếu anh Trọng nhận bảo lãnh.
Anh Trọng phải trả xong số tiền đó thì anh Trọng mới có quyền yêu cầu ngân hàng trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, anh Trọng có quyền yêu cầu anh Tài hoàn trả lại số tiền đó theo quy định tại Điều 340 Bộ luật dân sự năm 2015 về Quyền yêu cầu của bên bảo lãnh:
“Bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Nếu anh Tài vẫn không thực hiện nghĩa vụ thì anh Trọng có thể khởi kiện anh Tài ra Tòa án để buộc anh Tài thực hiện nghĩa vụ.
Trong chương trình Hiểu đúng làm đúng trên kênh truyền hình quốc hội, luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW đã có phân phân tích về hành vi trục lợi bảo hiểm xe cơ giới. Mời quý vị đón xem tại đây:
Ngày 12/3/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp, trong đó quy định điều kiện đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp.
Cụ thể, tổ chức đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp phải đáp ứng 7 điều kiện:
1- Là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật và chưa từng bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp.
2- Có vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng trở lên.
3- Thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, chủ sở hữu đối với doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên, cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không bao gồm tổ chức hoặc cá nhân từng giữ một trong các chức vụ nêu trên tại doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định của Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp và Nghị định này.
4- Ký quỹ tại một ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
5- Có mẫu hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, quy tắc hoạt động, kế hoạch trả thưởng, chương trình đào tạo cơ bản rõ ràng, minh bạch và phù hợp với quy định của Nghị định này.
6- Có hệ thống công nghệ thông tin quản lý mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp, trang thông tin điện tử để cung cấp thông tin về doanh nghiệp và hoạt động bán hàng đa cấp của doanh nghiệp.
7- Có hệ thống thông tin liên lạc để tiếp nhận, giải quyết thắc mắc, khiếu nại của người tham gia bán hàng đa cấp.
Có 3 trường hợp chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp:
1- Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp hết hiệu lực mà không được gia hạn;
2- Doanh nghiệp tự chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp;
3- Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi.
Nghị định cũng quy định cụ thể quản lý hoạt động bán hàng đa cấp tại địa phương, trong đó, doanh nghiệp bán hàng đa cấp được coi là có hoạt động bán hàng đa cấp tại địa phương nếu thuộc một trong các trường hợp: Doanh nghiệp có trụ sở chính, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện có thực hiện chức năng liên quan đến hoạt động bán hàng đa cấp tại địa phương; doanh nghiệp tổ chức hội nghị, hội thảo, đào tạo về bán hàng đa cấp tại địa phương; doanh nghiệp có người tham gia bán hàng đa cấp cư trú (thường trú hoặc tạm trú trong trường hợp không cư trú tại nơi thường trú) hoặc thực hiện hoạt động tiếp thị, bán hàng theo phương thức đa cấp tại địa phương.
Doanh nghiệp hoạt động bán hàng đa cấp có trách nhiệm thực hiện thủ tục đăng ký tại Sở Công Thương tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và chỉ được phép tổ chức hoạt động bán hàng đa cấp sau khi có xác nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp bằng văn bản của Sở Công Thương tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đó.
Nghị định số 40/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 02/5/2018.
Trong chương trình Luật sư doanh nghiệp của Kênh truyền hình kinh tế tai chính VITV, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật S&B Law, cùng với các chuyên gia đã trao đổi về chế định hợp đồng thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam. Mời quý vị đón xem đoạn video sau: