Câu hỏi: Tôi là Giang. Trước đây công ty tôi có mở thêm tài khoản ngân hàng và đã có làm hồ sơ thông báo lên Sở kế hoạch đầu tư Thành phố. Tuy nhiên sau đó chúng tôi lại nhận đc thông báo rằng: “Doanh nghiệp chưa áp mã ngành đối với các ngành nghề đã đăng ký kinh doanh. Đề nghị doanh nghiệp làm hồ sơ thông báo bổ sung …”. Vậy cho tôi hỏi là muốn thông báo bổ sung mã ngành thì chúng tôi cần chuẩn bị những giấy tờ như thế nào?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Điều 49 Nghị định 78/2015/NĐ-CP có quy định về việc Thông báo bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh như sau:
1. Trường hợp bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh, doanh nghiệp gửi Thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đã đăng ký. Nội dung Thông báo bao gồm:
a) Tên, mã số doanh nghiệp, mã số thuế hoặc số Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trường hợp doanh nghiệp chưa có mã số doanh nghiệp, mã số thuế);
b) Ngành, nghề đăng ký bổ sung hoặc thay đổi;
c) Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp,
Kèm theo Thông báo phải có Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần và của các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; quyết định của chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên về việc bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh. Quyết định, biên bản họp phải ghi rõ những nội dung được thay đổi trong Điều lệ công ty.
2. Khi nhận Thông báo, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, bổ sung, thay đổi thông tin về ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp có nhu cầu, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.
3. Trường hợp hồ sơ thông báo bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh không hợp lệ, Phòng Đăng ký kinh doanh thông báo doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung hồ sơ trong thời hạn 03 ngày làm việc.
4. Doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo thay đổi, bổ sung ngành, nghề kinh doanh với Phòng Đăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có thay đổi. Trường hợp có thay đổi mà doanh nghiệp không thông báo thì sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.
Trong chương trình Luật sư doanh nghiệp Kênh kinh tế tài chính VITV, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW đã có phần trả lời phỏng vấn về vấn đề Ứng dụng công nghệ vào cuộc họp của công ty, chúng tôi trân trọng giới thiệu nội dung này:
Câu hỏi: Tôi là Đức, ở Hà Nội. Tôi muốn hỏi là khi thành lập công ty thường phải làm thủ tục công bố thông tin trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, nếu không đăng ký thì có bị phạt không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Điều 26 Nghị định số 50/2016/NĐ-CP quy định như sau:
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không công bố hoặc công bố không đúng thời hạn quy định nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
2. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc phải công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này
Như vậy, nếu thành lập công ty mà không làm thủ tục công bố thông tin trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp thì sẽ bị phạt từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng và buộc phải công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp cho đầy đủ thông tin.
Dưới đây là video Hội thảo pháp lý cho doanh nghiệp Start up của SBLAW. Mời quý vị đón xem tại đây:
Câu hỏi: Tôi là Linh. Hiện tại tôi đang chưa nắm rõ về luật quy định thời gian được ký hợp đồng đào tạo đối với người lao động vào làm trong công ty và ký hợp đồng đào tạo trước khi ký hợp đồng thử việc. Tôi chưa rõ chỗ:
1. Thời gian công ty được phép ký hợp đồng đào tạo với 1 người lao động là thời gian quy định như thế nào bao lâu?
2. Hợp đồng đào tạo được ký với 1 người lao động nhiều nhất được bao nhiêu lần?
3. Những đối tượng nào thì được phép ký hợp đồng đào tạo?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Trước hết, bạn cần phân biệt rõ chủ thể tham gia ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong quá trình làm việc và hợp đồng đào tạo nghề trước khi ký hợp đồng lao động. Đối với hợp đồng đào tạo nghề trong qúa trình làm việc thì chủ thể ký kết hợp đồng đào tạo nghề này là người sử dụng lao động và người lao động (người đã được ký hợp đồng lao động), còn đối với hợp đồng đào tạo nghề trước khi ký kết hợp đồng lao động thì chủ thể tham gia ký kết là người sử dụng lao động và người học nghề, tập nghề. Đối với từng chủ thể cùng người sử dụng lao động ký kết hợp đồng đào tạo thì họ sẽ được hưỡng những quyền lợi và phải thực hiện các nghĩa vụ khác nhau. Trường hợp của bạn, bạn cần làm rõ các vấn đề liên quan đến hợp đồng đào tạo nghề của người lao động ký kết với người sử dụng lao động. Cụ thể:
Thứ nhất, thời gian công ty được ký hợp đồng đào tạo với người lao động được quy định như thế nào?
Căn cứ theo quy định tại Điều 62 Bộ luật lao động năm 2012 về hợp đồng đào tạo nghề giữa người sử dụng lao động, người lao động và chi phí đào tạo nghề thì:
“Điều 62. Hợp đồng đào tạo nghề giữa người sử dụng lao động, người lao động và chi phí đào tạo nghề
1. Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.
Hợp đồng đào tạo nghề phải làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản.
2. Hợp đồng đào tạo nghề phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Nghề đào tạo;
b) Địa điểm đào tạo, thời hạn đào tạo;
c) Chi phí đào tạo;
d) Thời hạn người lao động cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động sau khi được đào tạo;
đ) Trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo;
e) Trách nhiệm của người sử dụng lao động.
3. Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài”.
Theo như quy định trên thì hợp đồng đào tạo là sự thỏa thuận về những điều khoản liên quan đến đào tạo của người lao động và người sử dụng lao động. Trong đó, thời hạn đào tạo là một trong những điều khoản do các bên thỏa thuận, việc đào tạo sẽ kéo dài bao lâu hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí, sự tự nguyện thỏa thuận của các bên. Hiện nay, pháp luật chưa giới hạn về thời gian đào tạo trong hợp đồng đào tạo giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Thứ hai, hợp đồng đào tạo được ký với người lao động tối đa là bao nhiêu lần?
Hợp đồng đào tạo là hợp đồng được ký kết khi người lao động và người sử dụng lao động có nhu cầu đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp hoặc đào tạo lại để phục vụ nhu cầu cho công việc nên khi có nhu cầu đào tạo và có sự đồng thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thì có thể tiến hành ký kết hợp đồng đào tạo. Do vậy, số lần ký kết hợp đồng đào tạo giữa người sử dụng lao động và người lao động phụ thuộc vào nhu cầu thực tế và sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Thứ ba, đối tượng được ký hợp đồng đào tạo nghề
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 61 Bộ Luật Lao động năm 2012 thì:
“1. Người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình, thì không phải đăng ký hoạt động dạy nghề và không được thu học phí.
Người học nghề, tập nghề trong trường hợp này phải đủ 14 tuổi và phải có đủ sức khoẻ phù hợp với yêu cầu của nghề, trừ một số nghề do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định.
Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề. Hợp đồng đào tạo nghề phải làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản”.
Và Khoản 1 Điều 62 Bộ Luật Lao động năm 2012:
“1. Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.
Hợp đồng đào tạo nghề phải làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản”.
Như vậy, đối tượng được phép ký kết hợp đồng đào tạo bao gồm: người lao động theo hợp đồng lao động, người học nghề, tập nghề khi có nhu cầu về đào tạo nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp để phục vụ cho quá trình làm việc.
Luật sư Nguyễn Thanh Hà chủ tịch công ty luật SBLAW trao đổi về Luật DN và luật Đầu tư 2014 sau 1 tháng triển khai trong chương trình luật sư của doanh nghiệp trên kênh thị trường kinh tế tài chính VITV. Mời quý vị đón xem:
Câu hỏi: Tôi là Hùng, ở Hà Nội. Qúy công ty tư vấn giúp tôi là khi soạn hợp đồng ngoại thương cần lưu ý những điều khoản nào?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Hợp đồng ngoại thương là cơ sở pháp lý xác lập quyền và nghĩa vụ cũng như các vấn đề liên quan giữa các bên trong quá trình mua bán hàng hóa. Xuất phát từ sự bất đồng ngôn ngữ, sự khác biệt trong hệ thống và quan niệm pháp luật giữa các quốc gia, các tập quán thương mại quốc tế, … mà nhiều tranh chấp không mong muốn đã xảy ra. Bên cạnh đó, tháng 11 năm 2016 vừa qua, Chủ tịch nước đã ký quyết định gia nhập Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Công ước này chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
Một số lưu ý khi soạn thảo hợp đồng ngoại thương như sau:
Thứ nhất, chọn luật áp dụng:
Luật áp dụng là hệ thống các quy phạm pháp luật sẽ được sử dụng để điều chỉnh các vấn đề trong hợp đồng. Thông thường, các bên sẽ có một điều khoản riêng để chọn luật. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Công ước của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nên nếu hai bên ký kết hợp đồng đến từ hai nước thành viên của công ước thì công ước sẽ có giá trị áp dụng mặc nhiên nếu hai bên không có điều khoản chọn luật. Để loại trừ việc áp dụng công ước này, các bên phải ghi nhận rõ trong hợp đồng hệ thống pháp luật nào sẽ được áp dụng và các bên thống nhất không sử dụng công ước này làm luật điều chỉnh.
Thứ hai, giải quyết tranh chấp:
Các bên cần thỏa thuận và xác định rõ sẽ chọn tòa án hay trung tâm trọng tài cụ thể nào để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra. Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận phương pháp giải quyết bằng con đường thương lượng, hòa giải và cách thức, thời hạn thực hiện. Nếu thương lượng, hòa giải không đạt kết quả mới đưa tranh chấp ra trung tâm tài phán.
Thứ ba, điều khoản về thanh toán:
Được thanh toán tiền hàng là mong muốn chính của bên bán trong hợp đồng ngoại thương, nên phương thức, đơn vị tiền tệ và thời hạn thanh toán nên được ghi nhận rõ ràng trong hợp đồng. Tuy nhiên, vẫn có khả năng bên mua thanh toán chậm gây bất lợi cho bên bán. Bên bán có thể đảm bảo quyền lợi của mình bằng cách quy định lãi suất trả chậm.
Thứ tư, điều khoản về chiết khấu:
Trong quan hệ làm ăn, các bên thường có xu hướng chiết khấu cho nhau để giữ mối quan hệ. Các bên có thể linh động lựa chọn các trường hợp được chiết khấu như khi bên mua thanh toán sớm trước hạn, …
– Cái khó của doanh nghiệp Viêt Nam hiện nay khi gia nhập công đồng kinh tế chung asean?
– phần lớn doanh nghiệp đều cho rằng cần phải có cơ chế chính sách hỗ trợ …
Câu hỏi: Tôi là Hà. Tôi ký hợp đồng lao động với một công ty dịch vụ, nhưng do thu nhập không đủ nên tôi xin đi làm lễ tân cho một công ty nữa. Công ty này yêu cầu tôi phải ký hợp đồng lao động làm việc cho họ. Tôi muốn hỏi luật sư là tôi đã ký hợp đồng lao động với một công ty rồi thì ký thêm với một công ty nữa thì có được phép hay không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Căn cứ Điều 21 Bộ luật lao động quy định về giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động như sau:
“Người lao động có thể giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết.
Trong trường hợp giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động được thực hiện theo quy định của Chính phủ”.
Theo thông tin mà bạn cung cấp thì bạn đã ký hợp đồng lao động với một công ty và đang đi làm lễ tân cho một công ty khác nữa và họ yêu cầu ký tiếp hợp đồng lao động với bạn. Đối chiếu với quy định trên của pháp luật thì bạn hoàn toàn có thể ký thêm hợp đồng làm kế toán với công ty thứ hai. Tuy nhiên khi ký hợp đồng với cả hai công ty này thì bạn phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết với hai công ty này.
Bên cạnh đó khi giao kết hợp đồng lao động thì người lao động và người sử dụng lao động phải tuân theo nguyên tắc sau:
– Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực
– Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.
Thực trạng người lao động bị áp bức, bóc lột, đánh đập đang diễn ra khá phổ biến tại Việt Nam. Điều này làm dấy lên lo ngại về việc làm thế nào để bảo vệ quyền lợi cho người lao động khi đang làm nghiệp vụ. Để làm rõ hơn về vấn đề này, các bạn cùng theo dõi phần trao đổi của Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW trong chương trình Báo chí góc nhìn, phát trên kênh INFO TV. Mời quý vị đón xem:
Câu hỏi: Khu vực tôi ở đang làm đường nên anh X có rủ bố tôi mua xe tải chạy thải cho công ty xây dựng Y với giá là 100.000/chuyến (giao dịch miệng). Bố tôi đã mua xe và chạy cho Công ty Y từ ngày 01/01/2018 đến 28/02/2018 với tổng số chuyến là 950 chuyến. Công ty Y đã thanh toán tất cả số tiền 95.000.000 cho anh X vì anh X là người kí kết hợp đồng với Công ty Y nhưng anh X lại không thanh toán số tiền đó cho bố tôi mà anh ta lại yêu cầu thanh toán với giá 80.000/ chuyến. Bố tôi không đồng ý và đã nhờ công an xã can thiệp giải quyết. Nhưng xã lại không giải quyết được. Vậy nếu gia đình tôi muốn kiện anh Y với tội danh lừa đảo thì có lấy lại được số tiền trên không? Xe của bố tôi chạy có thống kê của công ty Y.
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Điều 174 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó. Như vậy để xem xét hành vi của X có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không thì phải xem xét đến yếu tố là X đã dùng thủ đoạn gian dối nhằm làm cho bố bạn tin tưởng X sẽ trả cho mình số tiền như X đã cam kết là 100.000đ/chuyến để mua xe cùng với X. Ngoài ra thủ đoạn gian dối của X phải có trước khi có việc giao tài sản giữa bố bạn với người này thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối lại có sau khi Xnhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Nếu hành vi của X không cấu thành tội lừa đảo chiếm tài sản theo Bộ Luật hình sự thì sẽ giải quyết theo dân sự.
Việc anh X có thỏa thuận với bố bạn là dùng xe của bố bạn mua để tiến hành vận chuyển cho công ty Y. Như vậy, về bản chất hợp đồng giao kết giữa bố bạn và anh X là hợp đồng dịch vụ:
Điều 513 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 513. Hợp đồng dịch vụ
Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”.
Sau khi bố bạn đã vận chuyển toàn bộ số hàng của công ty Y bao gồm 950 chuyến và công ty đã thanh toán số tiền trên cho anh X thì lúc này X có trách nhiệm trả tiền cho bố bạn theo như thỏa thuận.
Điều 519. Trả tiền dịch vụ
1. Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận.
2. Khi giao kết hợp đồng, nếu không có thỏa thuận về giá dịch vụ, phương pháp xác định giá dịch vụ và không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ được xác định căn cứ vào giá thị trường của dịch vụ cùng loại tại thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng.
3. Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ tại địa điểm thực hiện công việc khi hoàn thành dịch vụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp dịch vụ được cung ứng không đạt được như thỏa thuận hoặc công việc không được hoàn thành đúng thời hạn thì bên sử dụng dịch vụ có quyền giảm tiền dịch vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Trong trường hợp này mặc dù việc giao kết hợp đồng giữa bố bạn và anh X chỉ bằng miệng nhưng theo Điều 74 Luật Thương mại 2005 thì hợp đồng này vẫn có giá trị pháp lý ràng buộc các bên.
“Điều 74. Hình thức hợp đồng dịch vụ
1. Hợp đồng dịch vụ được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
2. Đối với các loại hợp đồng dịch vụ mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó”.
Trong trường hợp anh X không chịu thực hiện trả tiền theo đúng thỏa thuận thì bố bạn có thể gửi đơn khởi kiện nhờ Tòa án nơi anh X cư trú can thiệp.
Trong chuyên mục đối thoại nóng của bản tin địa ốc 24h, luật sư Nguyễn Thanh Hà đã trao đổi về đất dịch vụ, nguyên nhân giao đất chậm và những giải pháp đặt ra. Mời quý vị đón xem:
Câu hỏi: Vào ngày 15/2/2018, mình có giao dịch bán lại xe ô tô Kia giá 500 triệu đồng, mình có nhận cọc 6 triệu từ người mua, có viết giấy tay nhận cọc và thời hạn trong 1 tháng. Người mua bảo chỉ cần 20 ngày sẽ hoàn tất thủ tục mua xe. Mình đã tin tưởng và chờ đợi. Được 6 ngày sau, người mua gọi điện bảo không muốn lấy xe nữa và chịu mất tiền cọc, còn bảo mình tìm người khác để bán. Sau đó mình có bán cho người khác, có giảm cho người mua sau 6 triệu tiền đã nhận cọc trước gọi là lộc. Mình đã nhận đủ tiền và giao xe cho người mua sau. Đến ngày 5/3/2018, người mua xe trước gọi điện hỏi thăm xe mình đã bán chưa, mình nói đã bán thì người đó đòi lại tiền đặt cọc, bảo là do thời hạn giấy đặt cọc chưa hết nên yêu cầu mình phải trả. Đến ngày 15/3/2018 mới hết hạn đặt cọc. Mình thấy vô lý nên từ chối trả lại tiền cọc. Mình có giải thích là chỉ mới được 6 ngày sau đặt cọc đã huỷ giao dịch mua bán xe, trong khi mình đang cần bán gấp xe thì bây giờ quay ngược lại đòi trả tiền cọc. Sau đó người đặt cọc xe đòi báo công an nhờ giải quyết. Vậy mình cần phải làm gì?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về đặt cọc để đảm bảo nghĩa vụ như sau:
“Điều 328. Đặt cọc
1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Như vậy, nếu các bên không có thỏa thuận khác trong hợp đồng thì tài sản đặt cọc sẽ thuộc về bên nhận đặt cọc là bạn nếu bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng.
Theo thông tin bạn cung cấp, bên đặt cọc đã gọi điện thông báo không mua bán xe nữa và đồng ý mất tiền đặt cọc, đây có thể xem là từ chối thực hiện hợp đồng.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ: (1) Lời khai của đương sự, người làm chứng; (2) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng; (3) Trưng cầu giám định; (4) Định giá tài sản (5) Xem xét, thẩm định tại chỗ; (6) Uỷ thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; (7) Yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; …
Trong trường hợp của bạn, vì bên mua từ chối thực hiện hợp đồng không thông qua hình thức văn bản vì thế, bạn có thể đề nghị Tòa án giúp đỡ chứng minh sự thật khách quan của vụ án, lúc này Tòa án sẽ yêu cầu bên cơ quan mạng viễn thông giúp bạn cung cấp tài liệu, chứng cứ nghe được về việc bên mua đã từ chối thực hiện hợp đồng qua điện thoại.
Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Rõ ràng, Luật DN 2014 đã có những điểm mới đáng kể trong việc mở rộng hơn quyền kinh doanh, trong đó bao gồm cả quyền kinh doanh, việc đăng ký kinh doanh, cũng như việc gia nhập thị trường của DN, v..v.. Những điểm mới đó được cụ thể hóa như thế nào? Cộng đồng doanh nghiệp được hưởng lợi gì từ những quy định mới này? Mời các bạn đón xem:
Câu hỏi: Mình là Thơm. Nhà mình có một mảnh đất có bán cho ông A vào tháng 6 năm 2016 khi đó nhà mình đang trong thời gian chờ cấp sổ đỏ. Trong quá trình mua bán chỉ có giấy tờ viết tay và ông A có thanh toán trước khoảng 60% số tiền giá trị đất. Do chính sách nên tới đầu tháng 8 năm 2017 nhà mình mới được hẹn lấy sổ đỏ, khi đó gia đình sẽ làm thủ tục sang nhượng đất luôn. Tuy nhiên, ông A muốn hủy hợp đồng với gia đình mình với lý do là sổ đỏ chậm và muốn lấy lại số tiền đã thanh toán trước đó. Nhưng số tiền đó gia đình mình đã sử dụng vào công việc nếu bây giờ rút ra trả sẽ gây thiệt hại cho gia đình. Vậy mình xin hỏi: Nếu ông A yêu cầu hủy hợp đồng trong trường hợp này thì gia đình mình có được quyền yêu cầu bồi thường ko? Mình xin nói thêm là trước khi mua bán, gia đình mình có nói đang làm sổ đỏ và ông A cũng đồng ý khi nào có sổ đỏ thì lấy sau và thanh toán nốt số tiền còn lại nhưng cũng không hẹn rõ cụ thể thời gian.
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Vì những thông tin mà bạn cung cấp cho chúng tôi chưa được cụ thể, vì thế trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:
Thứ nhất, nếu hợp đồng giữa gia đình bạn và ông A ký là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 có quy định về quyền lợi của người sử dụng đất như sau:
“Điều 188: Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
“1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp; …”.
Ngoài ra, đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 có quy định như sau:
“3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này; …”.
Theo như thông tin mà bạn vừa cung cấp thì gia đình bạn mới chỉ đang trong thời gian chờ cấp sổ đỏ tức là hiện tại vẫn chưa hề có giấy tờ chứng nhận sở hữu mảnh đất đó, như vậy nếu hợp đồng mà hai bên đã ký kết là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì hoàn toàn không phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi căn cứ tại Điều 188 Luật Đất Đai năm 2013 vừa nêu trên thì đối với loại hợp đồng này cần phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới được phép thực hiện việc chuyển nhượng.
Thêm vào đó đối với hợp đồng chuyển nhượng này theo quy định bắt buộc phải được công chứng, chứng thực tại các cơ quan có thẩm quyền, mà hợp đồng gia đình bạn viết chỉ hoàn toàn là hợp đồng viết tay.
Vậy nên hợp đồng giao dịch giữa hai bên hoàn toàn không có giá trị pháp lý. Như vậy nếu có tranh chấp sẽ bị tuyên là hợp đồng vô hiệu căn cứ vào những Điều sau của Bộ luật dân sự năm 2015:
“Điều 407: Hợp đồng vô hiệu
1. Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.
………………………….
Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
……………..
4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường …”.
Như vậy, từ những căn cứ pháp lý trên nếu có xảy ra tranh chấp thì hai bên sẽ khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nghĩa là gia đình bạn sẽ phải hoàn lại 60% số tiền bên mua đặt cọc và bên mua sẽ không có bất cứ nghĩa vụ phải bồi thường nào.
Thứ hai, nếu hợp đồng mà hai bên thỏa thuận ký là hợp đồng đặt cọc
Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về hợp đồng đặt cọc như sau:
“1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Đối với hợp đồng đặt cọc pháp luật không có quy định phải công chứng, mà việc đặt cọc này chỉ đảm bảo việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà bạn sẽ kí kết hợp đồng trong tương lai, cụ thể là ở ngay thời điểm gia đình bạn đã có sổ đỏ. Như vậy, việc làm hợp đồng đặt cọc không hề trái với quy định của pháp luật.
Thêm vào đó, như thông tin bạn cung cấp thì trong hợp đồng không hề hẹn rõ thời gian cụ thể cho việc đặt cọc này đến khi nào thì sẽ chấm dứt nghĩa vụ đặt cọc này. Vì thế nếu bên mua muốn được lấy lại số tiền đặt cọc thì cần phải được sự đồng ý từ phía gia đình bạn. Trong trường hợp bên bán không đồng ý mà vẫn muốn tiếp tục hủy đặt cọc thì sẽ xử lý theo thỏa thuận hai bên đã ký kết trong hợp đồng. Trường hợp nếu HĐ không có quy định thì giải quyết theo pháp luật dân sự và khi đó theo Khoản 2 Điều 328 BLDS năm 2015 thì 60% giá trị số tiền đất sẽ thuộc về phía gia đình bạn mà không phát sinh bất cứ nghĩa vụ bồi thường nào.
Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLaw trả lời phỏng vấn về hợp đồng trong mua bán bất động sản. Để đảm bảo công bằng cho các bên tham gia thì cần phải có một bản hợp đồng mẫu chuẩn và có tính bắt buộc. Mời các bạn đón xem:
Câu hỏi: Công ty tôi vừa nhận thầu thi công 1 công trình nhưng trị giá hợp đồng không cao. Bên giao thầu yêu cầu phải có chứng thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Cho tôi hỏi: Có quy định nào quy định giá trị hợp đồng bao nhiêu thì mới cần soạn chứng thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng không? Bên giao thầu yêu cầu Công ty chúng tôi phải làm chứng thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng vô điều kiện cho đến khi công trình hoàn thành, có nghĩa là nếu công trình bị kéo dài vì bất kỳ lý do gì Công ty chúng tôi vẫn phải có trách nhiệm gia hạn tiếp chứng thư này. Bên Công ty tôi đương nhiên là không chấp nhận. Vậy trường hợp này Công ty tôi từ chối có đúng không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Thứ nhất, về việc bảo đảm thực hiện hợp đồng:
Theo quy định của Luật đấu thầu năm 2013, bảo đảm thực hiện hợp đồng là việc nhà thầu, nhà đầu tư thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam để bảo đảm trách nhiệm thực hiện hợp đồng của nhà thầu, nhà đầu tư.
Đảm bảo thực hiện hợp đồng được thực hiện theo quy định tại Điều 66 Luật đấu thầu năm 2013 như sau:
“Điều 66. Bảo đảm thực hiện hợp đồng
1. Bảo đảm thực hiện hợp đồng được áp dụng đối với nhà thầu được lựa chọn, trừ nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, nhà thầu được lựa chọn theo hình thức tự thực hiện và tham gia thực hiện của cộng đồng.
2. Nhà thầu được lựa chọn phải thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trước thời điểm hợp đồng có hiệu lực …”.
Theo quy định trên, bảo đảm thực hiện hợp đồng chỉ không đặt ra với nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn và nhà thầu tự thực hiện hoặc tham gia thực hiện của hợp đồng. Luật đấu thầu cũng không có quy định với gói thầu có giá trị bao nhiêu thì phải nộp bảo đảm thực hiện hợp đồng.
Tuy nhiên, việc nộp bảo đảm đối với gói thầu trong lĩnh vực xây dựng được thực hiện theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP như sau:
“Điều 16. Bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng
1. Bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng là việc bên nhận thầu thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời gian thực hiện hợp đồng; khuyến khích áp dụng hình thức bảo lãnh.
2. Bảo đảm thực hiện hợp đồng phải được nộp cho bên giao thầu trước thời điểm hợp đồng có hiệu lực theo đúng thỏa thuận của các bên về giá trị, loại tiền, phương thức bảo đảm; theo mẫu được bên giao thầu chấp nhận và phải có hiệu lực cho đến khi bên nhận thầu đã hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc sau khi bên giao thầu đã nhận được bảo đảm bảo hành đối với hợp đồng có công việc thi công xây dựng và cung cấp thiết bị. Riêng hợp đồng tư vấn xây dựng, hợp đồng giao khoán nội bộ, hợp đồng xây dựng thuộc các chương trình mục tiêu do các hộ dân thực hiện và những hợp đồng xây dựng theo hình thức tự thực hiện không bắt buộc bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng”.
Theo đó, đối với gói thầu xây dựng, nhà thầu trúng thầu phải nộp bảo đảm thực hiện hợp đồng cho bên giao thầu trước thời điểm hợp đồng có hiệu lực. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, hợp đồng xây dựng có hiệu lực khi ký kết hợp đồng khi các có bên thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng và bên giao thầu đã nhận được bảo đảm thực hiện hợp đồng của bên nhận thầu.
Như vậy, việc nộp bảo đảm thực hiện hợp đồng là bắt buộc, không giới hạn giá trị gói thầu.
Thứ hai, về thời hạn thực hiện bảo đảm hợp đồng:
Khoản 4 Điều 66 Luật đấu thầu năm 2013 quy định về thời hạn thực hiện bảo đảm hợp đồng như sau:
“4. Thời gian có hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực cho đến ngày các bên hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngày chuyển sang thực hiện nghĩa vụ bảo hành đối với trường hợp có quy định về bảo hành. Trường hợp cần gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng, phải yêu cầu nhà thầu gia hạn tương ứng thời gian có hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng”.
Theo quy định trên, nhà thầu trúng thầu phải thực hiện bảo đảm thực hiện hợp đồng cho đến khi hoàn thành hợp đồng hoặc thực hiện nghĩa vụ bảo hành nếu có thỏa thuận giữa các bên.
Thời gian bảo hành của hợp đồng công trình xây dựng được quy định tại Điều 46 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP như sau:
“2. Bảo hành
a) Bên nhận thầu có trách nhiệm bảo hành công trình, bảo hành thiết bị theo đúng các thỏa thuận trong hợp đồng. Các thỏa thuận của các bên hợp đồng về thời hạn bảo hành, mức bảo đảm bảo hành phải phù hợp với quy định của pháp luật về xây dựng.
b) Bảo đảm bảo hành có thể thực hiện bằng hình thức bảo lãnh hoặc hình thức khác do các bên thỏa thuận, nhưng phải ưu tiên áp dụng hình thức bảo lãnh;
c) Bên nhận thầu chỉ được hoàn trả bảo đảm bảo hành công trình sau khi kết thúc thời hạn bảo hành và được chủ đầu tư xác nhận đã hoàn thành công việc bảo hành.
d) Trong thời hạn bảo hành, bên nhận thầu phải thực hiện việc bảo hành trong vòng hai mươi mốt (21) ngày kể từ ngày nhận được thông báo sửa chữa của bên giao thầu; trong khoảng thời gian này, nếu bên nhận thầu không tiến hành bảo hành thì bên giao thầu có quyền sử dụng tiền bảo hành để thuê tổ chức, cá nhân khác sửa chữa”.
Theo quy định trên, hai bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu không thực hiện theo đúng hợp đồng thì có quyền gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng. Khi đó, bên giao thầu có quyền yêu cầu nhà thầu gia hạn tương ứng thời gian có hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng.
Như vậy, trường hợp đã hết thời gian thực hiện hợp đồng nhưng có áp dụng thời hạn bảo hành thì bảo đảm thực hiện hợp đồng vẫn có hiệu lực. Trường hợp không áp dụng bảo hành hợp đồng xây dựng thì bảo đảm thực hiện hợp đồng chấm dứt khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng.
Trong chương trình Luật sư doanh nghiệp của Kênh truyền hình kinh tế tai chính VITV, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật S&B Law, cùng với các chuyên gia đã trao đổi về chế định Phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Việt Nam. Chúng tôi trân trọng giới thiệu nội dung bài phỏng vấn. Mời quý vị đón xem:
Câu hỏi: Mình là Hương, mình có ký 1 hợp đồng lao động thời hạn 1 năm với công ty A. Nôi dung hợp đồng có quy định:
Bên A (Công ty thuê): Cam kết thực hiện đầy đủ chế độ theo như thư mời làm việc.
Bên B (người lao động): Cam kết làm việc 1 năm kể từ thời điểm làm chính thức, nếu bỏ phải bồi thường 15 triệu chi phí đào tạo.
Theo như thư mời làm việc thì khi làm chính thức mình nhận được: Lương cứng: 6 triệu đồng/ tháng; Phụ cấp xăng xe: 15 lít/ tháng; Ăn trưa: 30 nghìn /buổi; Điện thoại: 200 nghìn/tháng (trả theo hóa đơn).
Sau 3 tháng làm việc chính thức, phía công ty A trả phụ cấp điện thoại, mặc dù mình đã phản ánh nhiều lần, trái với cam kết của thư mời làm việc. Cũng tại thời điểm này, giám đốc chi nhánh cũng có những hành vi công việc không đúng với mình, mình có báo cáo chuyện đó lên nhân sự và cấp trên, tuy nhiên Nhân sự không giải mâu thuẫn đó và GĐ chi nhánh đơn phương trả mình về nhân sự và bảo mình đừng đến làm nữa vì có đến cũng không được chấm công, trả lương. Do đó mình đã đệ đơn xin nghỉ việc vì công ty A không thực hiện đúng cam kết của mình. Tuy nhiên nhân sự không giải quyết chấm dứt hợp đồng lao động nếu mình không bồi thường 15 triệu chi phí đào tạo. Vì nhu cầu cuộc sống, mình đã tìm một công việc khác, hiện tại mình đang làm việc tại công ty khác và quay lại công ty A hỏi trường hợp nhân sự của mình đối với công ty A là như thế nào? Giải quyết ra sao? nhân sự công ty A trả lời là trường hợp của mình là đơn phương chấm dứt lao động trên hình thức tự ý nghỉ việc dài hạn.
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Thứ nhất, về việc chấm dứt hợp đồng lao động
Căn cứ Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định những trường hợp người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:
“Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:
1. Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
2. Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động; …”.
Trong trường hợp này do bên người sử dụng lao động đã vi phạm thoả thuận trong hợp đồng lao động về trả lương nên bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và đảm bảo điều kiện phải báo trước cho người sử dụng lao động 03 ngày làm việc theo khoản 2 Điều 37.
Thứ hai, về việc bồi thường chi phí đào tạo
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 43 Bộ luật lao động năm 2012 thì: khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người lao động phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62. Cụ thể:
“Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luậ
1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.
3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”
Điều 62. Hợp đồng đào tạo nghề giữa người sử dụng lao động, người lao động và chi phí đào tạo nghề
1. Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.
Hợp đồng đào tạo nghề phải làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản.
2. Hợp đồng đào tạo nghề phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Nghề đào tạo;
b) Địa điểm đào tạo, thời hạn đào tạo;
c) Chi phí đào tạo;
d) Thời hạn người lao động cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động sau khi được đào tạo;
đ) Trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo;
e) Trách nhiệm của người sử dụng lao động.
Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài.
Như vậy, theo quy định trên, người lao động phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động trong trường hợp hai bên ký kết hợp đồng đào tạo nghề. Trường hợp của bạn chi phí đào tạo được quy định trong hợp đồng lao động là một phần của hợp đồng lao động, do đó khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người lao động phải bồi thường cho người sử dụng lao động. Khi người lao động chấm dứt hợp đồng đúng luật thì không phải hoàn trả chi phí đào tạo.
Tại Điều 47 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:
“1. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.
2.Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sửdụng lao động đã giữ lại của người lao động”.
Như vậy, khi chấm dứt hợp đồng lao động, công ty sẽ có trách nhiệm xác nhận và thanh toán các khoản có liên quan đến quyền lợi của bạn.
Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLaw trả lời phỏng vấn về hợp đồng trong mua bán bất động sản. Để đảm bảo công bằng cho các bên tham gia thì cần phải có một bản hợp đồng mẫu chuẩn và có tính bắt buộc. Mời quý vị đón xem tại đây:
Câu hỏi: Tôi là Hậu, ở Hà Nội. Đơn vị tôi thực hiện đấu thầu qua mạng, cho tôi hỏi: Khi đơn vị mở thầu chọn đánh giá theo quy trình 2, giá thấp nhất xếp hạng thứ nhất, sau đó tiến hành đánh giá kỹ thuật -> đánh giá, kiểm tra tính hợp lệ -> đánh giá năng lực kinh nghiệm. Tuy nhiên theo biên bản mở thầu qua mạng, ở phần thời gian thực hiện hợp đồng nhà thầu cam kết thì không đáp ứng với hồ sơ mời thầu. Vậy bên tôi có tiến hành tiếp tục giá nhà thầu này không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ươn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Khoản 8 Điều 5 Thông tư 10/2015/TT-BKHĐT có quy định như sau:
“Điều 5. Phần công việc thuộc kế hoạch lựa chọn nhà thầu
…………………………………………………
8. Thời gian thực hiện hợp đồng:
Thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực đến ngày các bên hoàn thành nghĩa vụ theo quy định trong hợp đồng, trừ thời gian thực hiện nghĩa vụ bảo hành (nếu có). Thời gian thực hiện hợp đồng cần phù hợp với tiến độ thực hiện dự án. Trường hợp gói thầu gồm nhiều phần riêng biệt thì quy định cụ thể thời gian thực hiện hợp đồng cho từng phần”.
Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 18, Nghị định 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định một trong các điều kiện đánh giá tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu là thời gian thực hiện gói thầu nêu trong đơn dự thầu phải phù hợp với đề xuất về kỹ thuật.
Theo đó, trường hợp trong đơn dự thầu, nhà thầu không đề xuất thời gian thực hiện hợp đồng hoặc có đề xuất nhưng không phù hợp với đề xuất về kỹ thuật thì hồ sơ dự thầu của nhà thầu không được tiếp tục xem xét, đánh giá.
Trong trường hợp của đơn vị bạn thực hiện đấu thầu qua mạng: Khi đơn vị mở thầu chọn đánh giá theo quy trình 2, giá thấp nhất xếp hạng thứ nhất, sau đó tiến hành đánh giá kỹ thuật => đánh giá, kiểm tra tính hợp lệ => đánh giá năng lực kinh nghiệm. Tuy nhiên theo biên bản mở thầu qua mạng, ở phần thời gian thực hiện hợp đồng nhà thầu cam kết thì không đáp ứng với hồ sơ mời thầu thì hồ sơ dự thầu của nhà thầu này không được tiếp tục xem xét, đánh giá.
Trong chương trình Luật sư doanh nghiệp của Kênh truyền hình kinh tế tai chính VITV, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật S&B Law, cùng với các chuyên gia đã trao đổi về chế định hợp đồng thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam. Chúng tôi trân trọng giới thiệu nội dung bài phỏng vấn:
Câu hỏi: Tôi là Liên, ở Hà Nội. Qúy công ty cho tôi hỏi: Hiện nay pháp luật quy định như thế nào về bán khoản phải thu từ hợp đồng cho thuê tài chính?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính đều là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, đều có thể thực hiện hoạt động cho thuê tài chính. Hoạt động cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính. Theo Thông tư số 20/2017/TT-NHNN, khoản phải thu từ hợp đồng cho thuê tài chính là số tiền mà bên thuê tài chính còn phải trả cho bên cho thuê tài chính theo hợp đồng cho thuê tài chính. Pháp luật quy định khoản phải thu này có thể được chuyển giao cho người khác thông qua hợp đồng bán khoản phải thu. Thực chất đây là việc chuyển giao quyền đòi nợ của công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính đối với chủ thể có nhu cầu.
Thông tư quy định bên bán khoản phải thu có thể thực hiện việc bán bằng phương thức thỏa thuận thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán và bên mua hoặc gián tiếp thông qua bên môi giới, hoặc đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản. Khi thực hiện việc bán, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính phải thành lập Hội đồng bán khoản phải thu phù hợp với điều lệ, quy định nội bộ quy định về vấn đề này.
Việc thanh toán trong bán khoản phải thu phải tuân thủ quy định về đồng tiền sử dụng là đồng Việt Nam. Việc sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền thanh toán trong giao dịch bán khoản phải thu chỉ được thực hiện trong trường hợp công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính bán khoản phải thu bằng ngoại tệ cho bên mua là người không cư trú.
Hợp đồng bán khoản phải thu cần đảm bảo những nội dung cơ bản về:
-Thông tin xác định bên bán, bên mua;
– Khoản phải thu, thời hạn còn lại của hợp đồng cho thuê tài chính, tài sản cho thuê tài chính liên quan tới khoản phải thu được bán và tên, địa chỉ của bên thuê tài chính;
– Giá bán khoản phải thu, chi phí liên quan đến việc thực hiện bán khoản phải thu;
– Đồng tiền bán khoản phải thu; phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán;
– Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng bán khoản phải thu (nếu có);
– Quy định về chuyển giao quyền đòi nợ, quyền sở hữu tài sản cho thuê tài chính và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định;
– Quy định về việc bên mua trực tiếp thu tiền thuê; hoặc bên bán thu tiền thuê để trả cho bên mua hoặc thành viên đầu mối thanh toán thu tiền thuê để trả cho bên mua (trong trường hợp bán khoản phải thu từ hợp đồng cho thuê tài chính hợp vốn có thành viên đầu mối thanh toán);
– Quy định về việc truy đòi khoản phải thu (nếu có);
– Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại;
– Trách nhiệm gửi thông báo cho bên thuê tài chính (nếu có);
– Quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua;
– Quy định về việc xử lý trong trường hợp hợp đồng cho thuê tài chính chấm dứt trước hạn;
Giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng bán khoản phải thu;
Hiệu lực của hợp đồng bán khoản phải thu.
Thông tư 20/2017/TT-NHNN có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/02/2018. Hợp đồng bán khoản phải thu ký trước ngày 12/02/2018 được tiếp tục thực hiện theo các thỏa thuận đã ký kết. Việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng bán khoản phải thu phải phù hợp với quy định tại Thông tư này.
Trong tiểu mục Hiểu đúng làm đúng của truyền hình quốc hội, luật sư Nguyễn Thanh Hà có phần tư vấn cho doanh nghiệp khởi nghiệp về vấn đề hợp đồng.