Tranh chấp về lối đi chung giữa các hộ liền kề giải quyết như thế nào?

Câu hỏi: Tôi là Hưng. Gia đình chúng tôi làm nhà trên mảnh đất 2 mặt tiền, một mặt hướng Bắc và mặt kia hướng Tây. Do tôi không hợp hướng Tây nên phải quay nhà và cổng hướng Bắc. Đường hướng Bắc thực chất là một ngõ phố nhỏ, được hình thành đã lâu và do 10 hộ dân trong ngõ góp tiền để bê tông hoá từ năm 2008. Khi tôi mở cổng đi hướng Bắc tôi đã trực tiếp gặp gỡ 10 hộ dân trong ngõ xin được tự nguyện đóng góp một phần kinh phí là 5 triệu đồng, tuy nhiên họ không đồng ý và yêu cầu tôi góp 10 triệu đồng. Tôi thấy số tiền đó là không hợp lý vì thực ra tôi mở cổng ngay góc ngã ba đường, chỉ đi chung ngõ xóm đó chừng 3 mét chiều dài. Không đạt được thỏa thuận, tôi mở thêm một cổng phụ nữa ở hướng Tây và sẽ đi lại chủ yếu bằng cổng phụ này. Do không đáp ứng yêu cầu của họ nên họ bàn cách cách gây cản trở sinh hoạt của gia đình tôi bằng cách dựng một cổng chào ngay giữa cổng nhà tôi và xây tường rào cao 2 mét ngay trước mặt tiền nhà tôi. Tôi thấy việc làm của họ là vô lí vì công trình xây dựng nhà tôi đã được cấp phép xây dựng trên đất hợp pháp đứng tên vợ chồng tôi. Vậy tôi xin hỏi hành động của họ có vi phạm pháp luật không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 254 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về Quyền về lối đi qua:

“1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

3. Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù”.

Bạn là chủ sở hữu của bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản khác mà không có lối đi ra sẽ có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề cho mình một lối đi hợp lý và gia đình bạn có nghĩa vụ thanh toán một khoản phí nhất định. Bạn hoàn toàn có thể sử dụng lối đi chung để đảm bảo những nhu cầu thiết yếu và hợp pháp của mình,

Theo như bạn trình bày thì con hẻm ở phía Bắc là đường đi chung giữa các hộ gia đình, được hình thành đã lâu và do 10 hộ dân trong ngõ góp tiền để bê tông hoá từ năm 2008. Nay bạn xây cổng ở hướng Bắc, để thuận tiện việc đi lại thì bạn có nhu cầu sử dụng lối đi chung với 10 hộ gia đình trên và bạn cũng đã thỏa thuận đóng góp một phần kinh phí là 5 triệu đồng, tuy nhiên các hộ gia đình trên không đồng ý và yêu cầu bạn góp 10 triệu đồng. Hơn nữa, sau khi không đạt được thỏa thuận, bạn mở thêm một cổng phụ nữa ở hướng Tây và quyết định đi lại ở cổng này thì các hộ gia đình kia lại dựng một cổng chào ngay giữa cổng và xây tường rào cao 2 mét ngay trước nhà để hạn chế sinh hoạt của gia đình bạn. Hành vi cản trợ của các hộ gia đình là vi phạm pháp luật, hạn chế quyền về lối đi qua theo quy định của bạn.

Khi có căn cứ xác định con hẻm là tài sản chung của cộng đồng, hành vi cản trở sử dụng và chiếm dụng của gia đình hàng xóm có thể vi phạm theo quy định tại Điều 12 Luật đất đai năm 2013:

“Những hành vi bị nghiêm cấm:

1. Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai.

2. Vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố.

3. Không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích.

4. Không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất.

5. Nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật này.

6. Sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

7. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.

8. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định về quản lý đất đai.

9. Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định của pháp luật.

10. Cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật”.

Ngoài ra, tùy theo mức độ của hành vi mà người này có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định số 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai đối với hành vi cản trở sử dụng đất, cụ thể

Điều 11. Gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng tại khu vực nông thôn, phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng tại khu vực đô thị đối với hành vi đưa chất thải, chất độc hại, vật liệu xây dựng hoặc các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc thửa đất của mình gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng tại khu vực nông thôn, từ 5.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng tại khu vực đô thị đối với hành vi đào bới, xây tường, làm hàng rào gây cản trở hoặc gây thiệt hại cho việc sử dụng đất của người khác.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;

b) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này”.

Vậy trong trường hợp này, trước hết bạn gặp gỡ các gia đình kia và thỏa thuận lại lần nữa về quyền chung lối đi. Nếu không thỏa thuận được thì bạn có thể tố cáo về hành vi đó đến Ủy ban nhân dân xã, người có thẩm quyền quản lý trật tự trong khu vực hoặc cơ quan công an để bảo vệ quyền và lợi ích chung của bạn cùng mọi người. Hoặc khởi kiện đến Tòa án nơi có bất động sản để được giải quyết.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà cùng các luật sư và chuyên gia pháp lý bàn về nguyên nhân và giải pháp để chống lại các tranh chấp về lao động – tiền lương. Sau đây là đoạn video liên quan đến vấn dề này. Mời quý vị đón xem:

Tư vấn giải quyết tranh chấp về nhà ở

Câu hỏi: Tôi là Minh. Anh họ tôi là người con trai cả trong gia đình nhưng anh bị tật từ nhỏ và không được cha mẹ thương, cha mẹ anh ấy có mua 1 mảnh đất từ mẹ tôi và dì có nói là mua nhà cho anh ấy ở, nhưng khi bán đất chỉ ký giấy tay không ai làm chứng.

Bây giờ thì bố anh ấy muốn cho thêm 1 người con và 1 đứa cháu vào ở. Vì hoàn cảnh nhà có 2 vợ chồng và 1 đứa con còn không có chỗ ở, anh có nói là không cho vào ở vì nhà quá nhỏ, nhưng bố và em gái anh ấy đe dọa là sẽ quăng đồ anh ấy ra ngoài và không cho anh ấy ở. Trong khi đó người bố này còn có 1 căn nhà rộng không ai ở, anh ấy có lên tiếng xin về nhà lớn để anh em tập hợp lại ở trong 1 căn, mỗi tháng trích ra 3 triệu để phụ cấp nhưng người bố không chịu nhất quyết đuổi anh ấy và làm đơn ra ủy ban phường can thiệp để đuổi anh ấy đi.

Hiện tại căn nhà nhỏ anh ấy đang ở và căn nhà lớn của bố anh ấy điều do bà ngoại tôi để lại, 3 người đứng tên chung 1 sổ đỏ là mẹ tôi, dì tôi và bố anh ấy, vậy ông ấy có quyền đuổi anh ấy không? Khi sổ đỏ đứng tên 3 người, mẹ và dì tôi có thể làm gì trong trường hợp này? Vì hoàn cảnh anh ấy rất khổ 2 vợ chồng không đủ sống và lại bị tật từ nhỏ.

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013: “a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;” Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước đây đã kí là không có giá trị pháp lý.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp, cả 2 căn nhà đều do bà ngoại của bạn để lại và người đứng tên trên sổ đỏ bao gồm: bố của anh họ bạn, dì bạn và mẹ của bạn. Do đó, đây là tài sản thuộc sở hữu chung của cả 3 người họ và thuộc loại sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia, các bên có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với các tài sản này theo Điều 210 BLDS năm 2015. Theo đó, việc chiếm hữu và sử dụng tài sản này được thực hiện thep quy định của BLDS như sau:

“Điều 217. Sử dụng tài sản chung

1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền ngang nhau trong việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Như vậy, việc quyết định sử dụng căn nhà như thế nào, cho ai ở phải được sự nhất trí và thỏa thuận từ cả 3 người chứ không chỉ phụ thuộc vào quyết định của một mình người bác của bạn. Do đó, việc đuổi anh họ bạn hay để anh họ bạn tiếp tục ở đấy phải được thỏa thuận từ cả 3 người. Nếu các bên không thể thống nhất được việc chiếm hữu, sử dụng tài sản chung thì tài sản phải được chia theo quy định của pháp luật dân sự.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà cùng các chuyên gia pháp lý thảo luận về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong chương trình kinh doanh và Pháp luật trên kênh VTV2. Mời quý vị đón xem:

Khách hàng khởi kiện hãng ô tô, nhận định từ luật sư

Một khách hàng có xe Ford Focus bị lỗi hộp số, bảo hành không hết đã đâm đơn kiện Ford Việt Nam, luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW đã dành cho báo Tiến Phong bài trả lời phỏng vấn về vấn đề này.

Chúng tôi trân trọng giới thiệu nội dung bài phỏng vấn:

Câu hỏi: Luật sư đánh giá thế nào về việc khách hàng kiện Ford Việt Nam để đòi quyền lợi?

Trả lời:

Trong quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì khởi kiện là một quyền của các bên, trong trường hợp này, khi khách hàng thấy rằng quyền lợi của mình bị vi phạm, sau nhiều lần liên hệ và yêu cầu xử lý mà Ford vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thì việc đem vụ việc ra cơ quan giải quyết tranh chấp là toà án là một hành động pháp lý bình thường, và đây là một hành xử nên làm trong các trường hợp tương tự.

Chúng ta nhận thấy, tại Việt Nam, người tiêu dùng trong những trường hợp tương tự, chưa có thói quen sử dụng các công cụ pháp lý để bảo vệ mình, có thể sau vụ việc này, hy vọng người tiêu dùng khi thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại thì có thể sử dụng toà án làm cơ quan giải quyết để bảo vệ mình.

Về phía toà án, phán quyết của Toà án về sau cũng có thể xem xét như một án lệ để giải quyết những vụ việc tương tự và áp dụng thống nhất trên toàn quốc.

Câu hỏi: Khách hàng đệ đơn ra tòa yêu cầu Ford Việt Nam phải mua lại chiếc ô tô bị lỗi, công bố lỗi sản phẩm và phải triệu hồi tất cả các xe bị lỗi tương tự. Những yêu cầu này liệu có được thực thi trong vụ kiện này?

Trả lời: Theo quan điểm của tôi, người khởi kiện có quyền yêu cầu hãng mua lại chiếc ô tô bị lỗi, công bố lỗi sản phẩm và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được lỗi của Ford.

Các thiệt hại có thể là thiệt hại về vật chất và tinh thần như yêu cầu trong đơn khởi kiện. Tuy nhiên, để được bồi thường, nguyên đơn phải chứng minh được thiệt hại, có lỗi của bị đơn, có hành vi vi phạm và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra.

Còn yêu cầu phải triệu hồi tất cả các xe khác bị lỗi tương tự, theo quan điểm của tôi, yêu cầu này khó được toà chấp thuận, Toà có thể chấp thuận yêu cầu này khi có hiệp hội bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng vào cuộc và có yêu cầu tương tự, còn yêu cầu của một cá nhân thì khó chấp nhận.

Câu hỏi: Luật sư đánh giá thế nào về cơ hội thắng kiện của mỗi bên?

Trả lời:

Việc thắng hay thua phụ thuộc rất nhiều vào chứng cứ và quá trình tranh tụng tại Toà, nguyên đơn sẽ phải cung cấp các chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm của Ford và ngược lại, bị đơn cũng sẽ phải cung cấp các chứng cứ và lập luận bác lại yêu của của nguyên đơn.

Tôi nhấn mạnh, vì đây là những vấn đề kỹ thuật, để có thể có một phán quyết đúng đắn, có thể Toà án sẽ tiến hành thuê một công ty giám định độc lập, kết quả giám định có thể là một chứng cứ quan trọng để toà án xem xét và ra quyết định về thắng thua ở vụ kiện này.

Giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng.

luật sư nguyễn thanh hà
luật sư nguyễn thanh hà

Ngân hàng Nhà nước đang chủ trì xây dựng dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 70/2000/NĐ-CP về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW đã có bài viết đóng góp ý kiến về nội dung Nghị định này gửi báo Diễn đàn doanh nghiệp.

Sau đây là nội dung bài viết:

Nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng đã được Chính phủ ban hành bằng Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000. Tuy nhiên, sau 16 năm thực hiện, những quy định của Nghị định 70/2000/NĐ-CP đến nay vẫn chưa bao quát hết yêu cầu thực tế hoạt động của các tổ chức tín dụng cũng như cân đối với các quy định khác của pháp luật.

Việc xây dựng và ban hành Nghị định thay thế Nghị định 70 nhằm bảo vệ lợi ích của khách hàng: Tạo cơ sở pháp lý để việc giữ bí mật và việc cung cấp thông tin được thực hiện thống nhất, đồng bộ, rõ ràng, minh bạch, đảm bảo quyền riêng tư cá nhân, thông tin khách hàng được pháp luật bảo vệ, phù hợp với Hiến pháp, Bộ luật Dân sự.

Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 70/2000/NĐ-CP nêu rõ: tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải có quy định nội bộ về giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin khách hàng, đảm bảo các thông tin khách hàng được giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp theo đúng các quy định của pháp luật. tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin về mật khẩu truy cập của khách hàng cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, trừ trường hợp được sự chấp thuận của khách hàng.

Cơ quan nhà nước, tổ chức khác, cá nhân không phải là khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải có trách nhiệm giữ bí mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cung cấp, không được để bên thứ ba sử dụng thông tin khách hàng mà mình có được vào bất kỳ mục đích nào mà không có sự chấp thuận bằng văn bản của khách hàng.

Dự thảo đã tương đối hoàn chỉnh, tuy nhiên vẫn còn một số điều khoản quy định chưa rõ ràng, dẫn đến khó hiểu. Cụ thể:

Khoản 5 Điều 3 Dự thảo quy định:

“thông tin về tài sản gửi của khách hàng là các thông tin về tài sản của khách hàng …. thông tin định danh khách hàng; tên loại tài sản; giá trị tài sản (nếu có) và các chứng từ hoặc công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản của khách hàng”.

Khái niệm “công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản của khách hàng” là chưa rõ ràng và khá khó hiểu, do đó có thể gây khó khăn trong quá trình áp dụng, đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi quy định trên theo hướng rõ ràng, dễ hiểu hơn.

 

“Thông tin định danh khách hàng”: điểm b khoản 7 quy định “đối với khách hàng là tổ chức” phải cung cấp thông tin “chủ tài khoản của tổ chức”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư 32/2016/TT-NHNN thì “chủ tài khoản của tổ chức là tổ chức mở tài khoản. Người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền (gọi chung là người đại diện hợp pháp) của tổ chức mở tài khoản thanh toán thay mặt tổ chức đó thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản thanh toán trong phạm vi đại diện”.

Như vậy, quy định vừa yêu cầu cung cấp thông tin định danh của tổ chức (tên giao dịch, địa chỉ đặt trụ sở chính, số điện thoại, … ) vừa yêu cầu cung cấp thông tin chủ tài khoản của tổ chức là trùng lặp.

Không để thông tin của người đại diện theo pháp luật trong Điều lệ công ty có được không?

Câu hỏi: Công ty tôi là công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên. Qúy công ty cho tôi hỏi: Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 trong Điều lệ công ty không để tên người đại diên theo pháp luật có được không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định Điều lệ công ty bao gồm Điều lệ khi đăng ký doanh nghiệp và Điều lệ được sửa đổi, bổ sung trong quá trình hoạt động.

Theo Điều 25 Luật doanh nghiệp năm 2014 thì Điều lệ công ty bao gồm các nội dung cơ bản sau:

“a) Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty; tên, địa chỉ chi nhánh và văn phòng đại diện (nếu có);

b) Ngành, nghề kinh doanh;

c) Vốn điều lệ; tổng số cổ phần, loại cổ phần và mệnh giá từng loại cổ phần đối với công ty cổ phần;

d) Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch và các đặc điểm cơ bản khác của các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; của chủ sở hữu công ty, thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần; phần vốn góp và giá trị vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh; số cổ phần, loại cổ phần, mệnh giá cổ phần từng loại của cổ đông sáng lập;

đ) Quyền và nghĩa vụ của thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; của cổ đông đối với công ty cổ phần;

e) Cơ cấu tổ chức quản lý;

g) Người đại diện theo pháp luật đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần;

h) Thể thức thông qua quyết định của công ty; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ;

i) Căn cứ và phương pháp xác định thù lao, tiền lương và thưởng cho người quản lý và Kiểm soát viên;

k) Những trường hợp thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc cổ phần đối với công ty cổ phần;

l) Nguyên tắc phân chia lợi nhuận sau thuế và xử lý lỗ trong kinh doanh;

m) Các trường hợp giải thể, trình tự giải thể và thủ tục thanh lý tài sản công ty;

n) Thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty”.

–  Lưu ý:

+ Vì bạn đăng ký thành lập doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên cho nên điều lệ khi đăng ký doanh nghiệp phải có họ, tên và chữ ký của Thành viên là cá nhân và người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của thành viên là tổ chức đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên;

+   Khi Điều lệ được sửa đổi, bổ sung phải có họ, tên và chữ ký của người đại diện theo pháp luật đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

Như vậy, khi soạn thảo Điều lệ công ty thì bạn phải đáp ứng đầy đủ các nội dung chủ yếu trên. Ngoài ra có thể bổ sung thêm các nội dung khác vào Điều lệ công ty nhưng không được trái quy định của pháp luật.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà giải đáp những thắc mắc liên quan đến quy định về con dấu doanh nghiệp hay giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong mục tư vấn pháp luật của kênh VITV.

Mời quý vị đón xem tại đây:

Hồ sơ xin cấp phép hoạt động Trung tâm ngoại ngữ mới nhất

Câu hỏi: Tôi là Thanh, quý công ty cho tôi hỏi: Hồ sơ xin cấp phép hoạt động Trung tâm ngoại ngữ gồm những tài liệu nào?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Hiện nay có rất nhiều Trung tâm ngoại ngữ, tuy nhiên việc xin giấy phép hoạt động vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Nghị định 46/2017/NĐ-CP quy định chi tiết về việc các quy định trong việc xin giấy phép hoạt động Trung tâm ngoại ngữ.

* Điều kiện để Trung tâm ngoại ngữ xin cấp phép hoạt động:

– Cán bộ quản lý, nhân viên, giáo viên đáp ứng điều kiện về chuyên môn

– Số lượng giáo viên đảm bảo không quá 25 học viên/ca học/1 giáo viên

– Diện tích phòng học tối thiểu 1,5m2/học viên, đủ ánh sáng.

– Đủ phòng học, phòng chức năng đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo

– Có giáo trình, tài liệu giảng dạy được Bộ GD&ĐT phê duyệt

– Đảm bảo về an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy

* Hồ sơ chuẩn bị gồm:

– Tờ trình đề nghị cấp phép hoạt động giáo dục;

– Quyết định thành lập trung tâm do người có thẩm quyền cấp;

–  Nội quy hoạt động giáo dục của trung tâm;

– Báo cáo về trang thiết bị làm việc của văn phòng; lớp học, phòng thực hành, cơ sở phục vụ đào tạo trong đó phải có văn bản chứng minh về quyền sử dụng hợp pháp đất, nhà; nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động của trung tâm;

– Chương trình, giáo trình, tài liệu dạy học;

– Danh sách trích ngang đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên tham gia giảng dạy;

– Các quy định về học phí, lệ phí;

– Chứng chỉ sẽ cấp cho học viên khi kết thúc khóa học

– Hợp đồng lao động, bằng cấp chuyên môn và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm của giảng viên

– Sơ yếu lý lịch và hồ sơ của Giám đốc trung tâm, bằng cấp chuyên môn

* Xác định thẩm quyền cấp phép hoạt động Trung tâm ngoại ngữ:

–  Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo quyết định cho phép hoạt động giáo dục đối với trung tâm ngoại ngữ, tin học trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo; trung tâm ngoại ngữ tin học trực thuộc trường trung cấp; trung tâm ngoại ngữ, tin học do tổ chức, cá nhân đề nghị thành lập; trung tâm ngoại ngữ, tin học thuộc trường đại học, trường cao đẳng nằm ngoài khuôn viên của trường; trung tâm ngoại ngữ, tin học thuộc các bộ, ban, ngành, các tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp có trụ sở đóng tại địa phương;

–  Giám đốc đại học, học viện; hiệu trưởng trường đại học, trường cao đẳng quyết định cho phép hoạt động giáo dục đối với trung tâm ngoại ngữ, tin học hoạt động trong khuôn viên của trường

* Thời gian thực hiện: 10 ngày làm việc.

Nhận lời mời trả lời phỏng vấn của kênh truyền hình VITV, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch, luật sư điều hành SB Law đã trao đổi một số nội dung về ngành nghề đăng ký kinh doanh trong doanh nghiệp, những bất cập và phương hướng giải quyết.

Mời quý vị đón xem tại đây:

Muốn mở một cơ sở khám, chữa bệnh thì nên chọn loại hình doanh nghiệp nào?

Câu hỏi: Mình là Bảo. Mình đã tốt nghiệp trường Đại học y dược được 03 năm, mình với 2 người bạn cùng học có ý định mở 1 cơ sở khám, chữa bệnh nhưng bọn mình đang không biết nên chọn loại hình doanh nghiệp nào? Qúy công ty tư vấn giúp mình.

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ vào Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì có 4 loại hình doanh nghiệp sau:

+ Công ty Cổ Phần (Yêu cầu có tối thiểu 3 thành viên).

+ Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn (1 thành viên; 2 thành viên trở lên).

+ Công ty hợp danh (Yêu cầu có ít nhất 2 thành viên).

+ Doanh nghiệp tư nhân (Do 1 cá nhân làm chủ).

Xét các yêu cầu về thành viên thì bạn có thể lựa chọn 3 loại hình kinh doanh: Công ty CP, Công ty TNHH và Công ty hợp danh.

Xét về trách nhiệm với rủi ro thì bạn có thể chọn 2 loại hình kinh doanh: Công ty CP và Công ty TNHH.

Các quy định về vốn, điều kiện kinh doanh và trình tự thủ tục đăng ký kinh doanh bạn có thể tham khảo thêm tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW trả lời phỏng vấn chương trình nhịp cầu Netviet về vấn đề lựa chọn loại hình doanh nghiệp cho Việt Kiều khi kinh doanh tại Việt Nam.

Mời quý vị đón xem tại đây:

 

Trách nhiệm của giám đốc khi người được ủy quyền vi phạm pháp luật

Câu hỏi: Tôi là Hiếu, ở Hà Nội. Hiện nay tôi có ý định mở thêm 1 công ty khác (công ty TNHH) của riêng tôi nên tôi định viết giấy ủy quyền cho người khác (anh X) thay tôi thực hiện quyền giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của công ty. Nếu người được tôi ủy quyền điều hành công ty làm công việc trái pháp luật thì về pháp lý tôi có chịu trách nhiệm gì không? Việc ủy quyền được lập thành văn bản (giấy ủy quyền), có thời hạn ủy quyền cụ thể.

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về người đại điện theo pháp luật đối với công ty TNHH như sau:

“Điều 13. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

3. Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

4. Trường hợp hết thời hạn ủy quyền theo khoản 3 Điều này mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì thực hiện theo quy định sau đây:

a) Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trở lại làm việc tại doanh nghiệp;

b) Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của công ty trở lại làm việc tại công ty hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

5. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

6. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

7. Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa án”.

Như vậy, theo quy định trên thì việc ủy quyền của bạn lại cho X là hoàn toàn phù hợp vì việc ủy quyền được lập thành văn bản (giấy ủy quyền), có thời hạn ủy quyền cụ thể là đến khi có văn bản khác thay thế.

Về phạm vi đại diện theo ủy quyền, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

“Điều 143. Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện

1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:

a) Người được đại diện đồng ý;

b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;

c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình vượt quá phạm vi đại diện.

2. Trường hợp giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch.

3. Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

4. Trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại”.

Như vậy, nếu người được ủy quyền vi phạm pháp luật, bạn sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp: Bạn đã đồng ý; Bạn biết mà không phản đối; hoặc bạn có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình vượt quá phạm vi đại diện.

Dưới đây là video về vấn đề Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp có thực sự khó khăn ?

Mời quý vị đón xem tại đây:

 

Thủ tục chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần

Câu hỏi: Công ty tôi có trụ sở ở Hà Nội, thành lập năm 2013, đăng ký thay đổi lần 2 năm 2015 (thay đổi cổ đông sáng lập). Công ty chúng tôi có 3 cổ đông, hiện nay có 1 cổ đông muốn chuyển toàn bộ số cổ phần của mình cho 1 người khác (người mới). Vậy quý công ty cho tôi hỏi: Thủ tục chuyển nhượng đó gồm những gì? Công ty tôi có phải làm đăng ký thông tin gì qua mạng không? Hay nộp trực tiếp tại phòng đăng ký kinh doanh?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Thứ nhất, về điều kiện chuyển nhượng cổ phần của cổ đông trong công ty như sau:

Điều 110 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về Công ty cổ phần như sau:

“1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

………………………………………………………

d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này”.

Và Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định về Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập:

“Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó”.

Bên cạnh đó Điều 126 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định Chuyển nhượng cổ phần như sau:

“1. Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng …”.

Theo thông tin của bạn cung cấp thì công ty của bạn thành lập từ năm 2013 và thay đổi lần 2 năm 2015 tính đến thời điểm hiện tại là đã được hơn 3 năm vì vậy sẽ không bị hạn chế quyền chuyển nhượng theo Khoản 3 Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng này chỉ được thực hiện nếu điều lệ công ty không quy định về hạn chế chuyển nhượng cổ phần.

Thứ hai, về thủ tục chuyển nhượng cổ phần.

1. Đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập:

Các bên liên quan ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cổ phần.

Tiến hành lập biên bản xác nhận về việc đã hoàn thành thủ tục chuyển nhượng cổ phần.

Tổ chức cuộc họp Đại Hội đồng cổ đông để thông qua việc chuyển nhượng cổ phần.

Tiến hành chỉnh sửa, bổ sung thông tin trong Sổ đăng ký cổ đông của công ty.

Tiến hành đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập theo quy định.

2. Đối với cổ phần phổ thông của cổ đông phổ thông:

Các bên liên quan ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cổ phần.

Tiến hành lập biên bản xác nhận về việc đã hoàn thành thủ tục chuyển nhượng cổ phần.

Tiến hành chỉnh sửa, bổ sung thông tin trong Sổ đăng ký cổ đông.

Tiến hành đăng ký cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần trở lên với Cơ quan đăng ký kinh doanh (nếu có)

Thứ ba, về trình tự thực hiện

Bước 1: Doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ đầy đủ theo quy định.

Bước 2: Doanh nghiệp đến nộp hồ sơ tại Phòng Đăng ký kinh doanh

Bước 3: Phòng Đăng ký kinh doanh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và giải quyết hồ sơ của doanh nghiệp.

Bước 4: Căn cứ theo ngày hẹn trên giấy Biên nhận, doanh nghiệp đến Phòng Đăng ký kinh doanh để nhận kết quả giải quyết hồ sơ

Về cách thức thực hiện: có thể nộp hồ sơ trực tiếp tại Phòng Đăng ký kinh doanh hoặc thông qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia theo địa chỉ www.dangkykinhdoanh.gov.vn

Như vậy, bạn có thể nộp hồ sơ trực tiếp tại phòng đăng ký kinh doanh hoặc qua cổng thông tin đăng lý doanh nghiệp quốc gia đều được.

Dưới đây là video vềvấn đề Luật Doanh Nghiệp 2014 mở rộng quyền kinh doanh. Mời quý vị đón xem tại đây:

Để kinh doanh ngành nghề kinh doanh về phòng cháy chữa cháy, phải đáp ứng những điều kiện gì?

Câu hỏi: Tôi là Khiêm, ở Hà Nội. Tôi đang có dự định kinh doanh ngành nghề thi công lắp đặt phòng cháy chữa cháy và tư vấn, thẩm định phòng cháy chữa cháy. Xin hỏi: Tôi cần đáp ứng điều kiện gì?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 43 Nghị định số 79/2014/NĐ-CP quy định về điều kiện đối với doanh nghiệp, cơ sở thi công, lắp đặt hệ thống phòng cháy và chữa cháy như sau:

1. Người đứng đầu doanh nghiệp và người đại diện theo pháp luật của cơ sở phải có văn bằng, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức về phòng cháy và chữa cháy.

2. Có ít nhất 01 chỉ huy trưởng thi công về phòng cháy và chữa cháy.

3. Có địa điểm hoạt động và cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị, máy móc bảo đảm cho việc thi công, lắp đặt hệ thống phòng cháy và chữa cháy.

Điều 43 Nghị định 79/2014/NĐ-CP quy định về điều kiện đối với doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh về tư vấn thiết kế, tư vấn thẩm định, tư vấn giám sát, tư vấn kiểm tra, kiểm định kỹ thuật về phòng cháy và chữa cháy như sau: 

1. Người đứng đầu doanh nghiệp và người đại diện theo pháp luật của cơ sở phải có văn bằng, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức về phòng cháy và chữa cháy.

2. Doanh nghiệp, cơ sở phải có cá nhân đủ điều kiện hành nghề dịch vụ phòng cháy và chữa cháy, cụ thể:

a) Có ít nhất 01 cá nhân có chứng chỉ hành nghề tư vấn thiết kế; tư vấn thẩm định, tư vấn giám sát, tư vấn kiểm tra, kiểm định kỹ thuật về phòng cháy và chữa cháy theo quy định tại Điểm b, c Khoản 3 Điều 47 Nghị định này.

b) Có ít nhất 01 cá nhân đảm nhiệm chức danh chủ trì thiết kế, thẩm định, giám sát, kiểm tra, kiểm định kỹ thuật về phòng cháy và chữa cháy theo quy định tại Khoản 4 Điều 47 Nghị định này.

3. Có địa điểm hoạt động; phương tiện, thiết bị, địa điểm bảo đảm thực hiện tư vấn thiết kế, tư vấn thẩm định, tư vấn giám sát, kiểm tra, kiểm định kỹ thuật về phòng cháy và chữa cháy.

Như vậy, để kinh doanh ngành nghề kinh doanh về phòng cháy chữa cháy mà bạn có đề cập thì cần đáp ứng những điều kiện nêu trên.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW trả lời phỏng vấn chương trình nhịp cầu Netviet về vấn đề lựa chọn loại hình doanh nghiệp cho Việt Kiều khi kinh doanh tại Việt Nam.

Chúng tôi trân trọng giới thiệu nội dung bài phỏng vấn:

Muốn nhập khẩu thiết bị đã qua sử dụng thì phải đáp ứng điều kiện gì?

Câu hỏi: Tôi là Hân. Công ty tôi đang dự định nhập khẩu máy móc cũ từ nước ngoài về. Không biết theo quy định hiện nay thì có yêu cầu gì cho máy móc nhập khẩu không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 5 Thông tư số 23/2015/TT-BKHCN quy định về yêu cầu chung cho thiết bị nhập khẩu đã qua sử dụng như sau:

Thiết bị đã qua sử dụng khi nhập khẩu phải phù hợp với các yêu cầu về an toàn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành.

Điều 6 Thông tư số 23/2015/TT-BKHCN quy định về yêu cầu cụ thể cho thiết bị nhập khẩu đã qua sử dụng như sau:

1. Thiết bị đã qua sử dụng được nhập khẩu khi đáp ứng các tiêu chí sau:

a) Tuổi thiết bị không vượt quá 10 năm;

b) Được sản xuất theo tiêu chuẩn phù hợp với quy định của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia (QCVN) hoặc Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) của Việt Nam hoặc phù hợp với Tiêu chuẩn của các nước G7 về an toàn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.

2. Đối với thiết bị đã qua sử dụng thuộc các dự án đầu tư, bao gồm dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng, thuộc các trường hợp sau:

a) Dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư;

b) Dự án thuộc diện phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mà không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư.

Nếu trong hồ sơ dự án đầu tư có danh mục thiết bị đã qua sử dụng và được cơ quan có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư thì không phải áp dụng quy định tại khoản 1 Điều này.

Trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư có thể lấy ý kiến thẩm định công nghệ của cơ quan chuyên môn về khoa học và công nghệ đối với thiết bị đã qua sử dụng trong hồ sơ dự án trước khi quyết định chủ trương đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

3. Đối với linh kiện, phụ tùng, bộ phận thay thế đã qua sử dụng: Chỉ được nhập khẩu khi doanh nghiệp sản xuất có nhu cầu sửa chữa, thay thế đối với thiết bị đang được vận hành tại doanh nghiệp. Doanh nghiệp sản xuất có thể tự nhập khẩu hoặc ủy quyền cho doanh nghiệp khác thực hiện việc nhập khẩu.

4. Trong trường hợp cần thiết, tùy thuộc đặc thù của từng ngành, lĩnh vực được phân công quản lý, Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành quy định yêu cầu về tuổi thiết bị thấp hơn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Thông tư này đối với thiết bị đã qua sử dụng (thấp hơn 10 năm) và thông báo cho Bộ Khoa học và Công nghệ biết để thống nhất quản lý.

Như vậy, để nhập khẩu máy móc đã qua sử dụng từ nước ngoài về thì phải đáp ứng các quy định ở trên.

Trong tiểu mục Hiểu đúng làm đúng của truyền hình quốc hội, luật sư Nguyễn Thanh Hà có phần tư vấn cho doanh nghiệp khởi nghiệp về vấn đề hợp đồng.

Mời Quý vị đón xem tại đây:

Chi nhánh mới thành lập thì nộp lệ phí môn bài cùng với công ty được không?

Câu hỏi: Tôi là Gia Am. Qúy công ty cho tôi hỏi: Công ty tôi vừa lập chi nhánh năm 2018. Bây giờ nộp lệ phí môn bài cho công ty thì có nộp luôn cho chi nhánh hay không? Hay phải nộp riêng?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 2 Nghị định 139/2016/NĐ-CP quy định Người nộp lệ phí môn bài như sau:

Điều 2. Người nộp lệ phí môn bài

Người nộp lệ phí môn bài là tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp quy định tại Điều 3 Nghị định này, bao gồm:

1. Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã.

3. Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật.

4. Tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân.

5. Tổ chức khác hoạt động sản xuất, kinh doanh.

6. Chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của các tổ chức quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này (nếu có).

7. Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh”.

Căn cứ Điều 5 Nghị định 139/2016/NĐ-CP quy định về Khai, nộp lệ phí môn bài thì:

Điều 5. Khai, nộp lệ phí môn bài 

1. Khai lệ phí môn bài được thực hiện như sau:

a) Khai lệ phí môn bài một lần khi người nộp lệ phí mới ra hoạt động kinh doanh, chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh;

b) Trường hợp người nộp lệ phí mới thành lập cơ sở kinh doanh nhưng chưa hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải khai lệ phí môn bài trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và đăng ký thuế.

2. Hồ sơ khai lệ phí môn bài là Tờ khai lệ phí môn bài theo mẫu ban hành kèm theo Nghị định này.

3. Người nộp lệ phí môn bài nộp Hồ sơ khai lệ phí môn bài cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

a) Trường hợp người nộp lệ phí có đơn vị phụ thuộc (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) kinh doanh ở cùng địa phương cấp tỉnh thì người nộp lệ phí thực hiện nộp Hồ sơ khai lệ phí môn bài của các đơn vị phụ thuộc đó cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp của người nộp lệ phí;

b) Trường hợp người nộp lệ phí có đơn vị phụ thuộc (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) kinh doanh ở khác địa phương cấp tỉnh nơi người nộp lệ phí có trụ sở chính thì đơn vị phụ thuộc thực hiện nộp Hồ sơ khai lệ phí môn bài của đơn vị phụ thuộc cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp đơn vị phụ thuộc.

4. Thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30 tháng 01 hàng năm. Trường hợp người nộp lệ phí mới ra hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc mới thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh thì thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai lệ phí.

5. Lệ phí môn bài thu được phải nộp 100% vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật”.

Theo như quy định, nếu chi nhánh kinh doanh ở cùng địa phương cấp tỉnh với bạn thì có thể nộp thuế cho công ty và chi nhánh. Trong trường hợp chi nhánh ở khác địa phương cấp tỉnh nơi bạn nộp lệ phí có trụ sở chính thì chi nhánh thực hiện nộp Hồ sơ khai lệ phí môn bài của đơn vị phụ thuộc cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp đơn vị phụ thuộc.

Luật sư Trần Trung Kiên từ công ty luật SBLAW đã có phần chia sẻ những kiến thức quan trọng về khởi nghiệp trong khuôn khổ buổi đào tạo tại Topica Founder Institue.

Mời các bạn đón xem nội dung tại đây: