Doanh nghiệp nước ngoài muốn kinh doanh bất động sản tại Việt Nam thì có được không?

Câu hỏi: Tôi là nhà đầu tư Nhật Bản, nay muốn đầu tư kinh doanh bất động sản tại Việt Nam thì có được không? Được đầu tư bằng những hình thức nào?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định tại Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 thì nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể kinh doanh bất động sản tại Việt Nam.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được kinh doanh bất động sản dưới các hình thức sau đây:

– Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại;

-Đối với đất được Nhà nước cho thuê thì được đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua;

-Nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;

-Đối với đất được Nhà nước giao thì được đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua;

-Đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất.

Trong chương trình luật sư doanh nghiệp, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch công ty luật SBLAW đã có bài trả lời phỏng vấn về bải bỏ Giấy phép con theo Luật đầu tư năm 2014. Mời quý vị đón xem:

Đầu tư nước ngoài để sản xuất sản phẩm thuốc lá

Câu hỏi: Công ty mình là công ty Hàn Quốc muốn mở công ty sản xuất thuốc lá tại Việt Nam thì có được phép hay không? Cần điều kiện gì?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Sản xuất sản phẩm thuốc lá là ngành nghề kinh doanh có điều kiện tại Việt Nam. Đối với nhà đầu tư nước ngoài thì phải thỏa mãn những điều kiện sau:

  1. Theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia (ACIA)

-Không cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài thuộc quốc gia là thành viên ASEAN để:

+ Sản xuất thuốc lá, gồm thuốc lá điếu và xì gà; sản xuất thuốc lá.

+ Cung cấp dịch vụ liên quan tới sản xuất bao gồm:

. Chế biến sản phẩm thuốc lá như thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá tẩu, thuốc lá nhai, thuốc lá do nông dân cắt theo hợp đồng hoặc trả phí; chế biến thuốc lá hoàn nguyên trên cơ sở hợp đồng hay mất phí; chế biến hookah trên cơ sở hợp đồng hay mất phí;

. Các dịch vụ liên quan tới chế biến thuốc lá đã qua chế biến để sản xuất thuốc lá điếu trên cơ sở hợp đồng hay mất phí.

  1. Pháp luật Việt Nam (Nghị định 67/2013/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 08/2018/NĐ-CP)

-Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ: Nhà nước chiếm tỷ lệ chi phối trong vốn điềulệ của doanh nghiệp (trong trường hợp đầu tư theo hình thức liên doanh;

-Hình thức đầu tư: trên cơ sở liên doanh hợp tác;

-Đối tác Việt Nam tham gia đầu tư: Doanh nghiệp đã có Giấy phép sản xuất sản phẩm thuốc lá;

– Đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 17 của Nghị định này;

– Được Thủ tướng Chính phủ cho phép trên cơ sở đề nghị của Bộ Công Thương.

Trong chương trình luật sư doanh nghiệp, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch công ty luật SBLAW đã có bài trả lời phỏng vấn về bải bỏ Giấy phép con theo Luật đầu tư năm 2014. Mời quý vị đón xem:

Điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu

Câu hỏi: Tôi là nhà đầu tư từ Singapore. Nay tôi muốn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh xăng dầu tại Việt Nam. Xin hỏi: Điều kiện là gì?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Hiện nay, với xu thế hội nhập và phù hợp với cơ chế mở của của Việt Nam, các nhà đâu tư nước ngoài có nhu cầu muốn đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực xăng rằng ngày càng cao. Tuy nhiên, đây là ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài muốn hoạt động trong lĩnh vực này trước tiên cần đáp ứng điều kiện mà pháp luật quy định bắt buộc.

Hình thức đầu tư:

Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư theo một trong các hình thức sau đây:

-Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế;

-Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong tổ chức kinh tế;

-Đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh;

-Nhận chuyển nhượng dự án đầu tư hoặc các trường hợp tiếp nhận dự án đầu tư khác.

Điều kiện đầu tư:

1. Theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia (WTO, FTAs, ACIA)

Theo quy định tại các điều ước quốc tế mà Viết Nam là thành viên thì nhà đầu tư nước ngoài không được thực hiện quyền phân phối đối với dầu thô và dầu đã qua chế biến.

2. Điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam

Đối với lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, nhà đầu tư nước ngoài khi có nhu cầu đầu tư vào lĩnh vực này tại Việt Nam phải tuân thủ các điều kiện sau:

– Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không được thực hiện quyền xuất khẩu đối với dầu mỏ và các loại dầu thu được từ các khoáng bitum, ở dạng thô; dầu mỏ thô; khí ngưng và các loại khác. Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài là Nhà thầu dầu khí theo quy định của Luật dầu khí được quyền xuất khẩu phần dầu khí thuộc sở hữu của mình.

-Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không được thực hiện quyền nhập khẩu đối với dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ và các loại dầu thu được từ các khoáng bitum, trừ dầu thô; các chế phẩm chưa được chi tiết hoặc được ghi ở nơi khác, có chứa hàm lượng từ 70% trở lên là dầu cso nguồn gốc từ dầu morhoawjc các loại dầu thu được từ khoáng bitum, những loại dầu này thành phần cơ bản của các chế phẩm đó; dầu thải.

-Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không được thực hiện quyền phân phối đối với dầu thô và dầu đã qua chế biến bao gồm: dầu mỏ và các loại dầu thu được từ các khoáng bitum, ở dạng thô; dầu có nguồn gốc từ dầu mỏ và các loại dầu thu được từ các khoáng bitum.

-Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được sản xuất xăng dầu với điều kiện phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt.

Chuyên mục Tư Vấn Pháp Luật – Luật sư Nguyễn Thanh Hà trả lời câu hỏi của khán giả về vấn đề bổ sung dịch vụ kinh doanh trong giấy chứng nhận đầu tư khu công nghiệp. Mời quý vị đón xem:

Chủ đầu tư bàn giao căn hộ chênh lệch diện tích: Người mua phải làm gì?

Chủ đầu tư bàn giao căn hộ chênh lệch diện tích: Người mua phải làm gì?

Mặc dù, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà ở và công trình công cộng QCVN 04-1:2015/BXD và Thông tư số 03/2014/TT-BXD đã thống nhất cách tính diện tích theo thông thủy, song, tình trạng tăng, giảm diện tích ở căn hộ chung cư vẫn xảy ra.

Cách tính diện tích căn hộ hiện nay

Hiện nay cách tính diện tích căn hộ chung cư được thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà ở và công trình công cộng QCVN 04-1:2015/BXD. Tuy nhiên, đến nay nhiều người mua chung cư chưa biết đến quy định này và hoặc biết đến nhưng chưa biết chính xác cách đo đạc diện tích thông thủy như thế nào là đúng với quy đinh của pháp luật.

Theo hướng dẫn tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà ở và công trình công cộng QCVN 04-1:2015/BXD, diện tích sử dụng của căn hộ là diện tích sàn được tính theo kích thước thông thủy, bao gồm cả phần diện tích tường ngăn các phòng bên trong căn hộ, diện tích ban công, lô gia (nếu có) và không tính diện tích chiếm chỗ của tường bao ngôi nhà, tường phân chia giữa các căn hộ, cột, vách chịu lực, hộp kỹ thuật nằm bên trong căn hộ.

Trước đây, Thông tư số 03/2014/TT-BXD sửa đổi, bổ sung Thông tư số 16/2010/TT-BXD của Bộ trưởng Bộ Xây dựng cũng quy định tương tự như trên. Cụ thể:

Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 03/2014/TT-BXD ngày 20/02/2014 của Bộ Xây dựng quy định như sau:

“Đối với hợp đồng mua bán căn hộ chung cư thương mại ký với chủ đầu tư, các bên phải ghi rõ các nội dung sau đây: phần diện tích thuộc sở hữu, sử dụng chung, phần diện tích thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư; diện tích sàn xây dựng căn hộ; diện tích sử dụng căn hộ (diện tích thông thủy) để tính tiền mua bán căn hộ…

Diện tích sử dụng căn hộ được tính theo kích thước thông thủy như quy định trên và được ghi vào Giấy chứng nhận cấp cho người mua, bao gồm cả phần diện tích tường ngăn các phòng bên trong căn hộ và diện tích ban công, lô gia (nếu có) gắn liền với căn hộ đó, không tính tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, diện tích sàn có cột, hộp kỹ thuật nằm bên trong căn hộ.

Khi tính diện tích ban công thì tính toàn bộ diện tích sàn, trường hợp ban công có phần diện tích tường chung thì tính từ mép trong của tường chung. Khi bàn giao căn hộ, các bên phải ghi rõ trong biên bản bàn giao căn hộ hoặc trong phụ lục hợp đồng diện tích sử dụng căn hộ thực tế bàn giao và diện tích ghi trong hợp đồng mua bán căn hộ đã ký; biên bản bàn giao căn hộ hoặc phụ lục hợp đồng được coi là một bộ phận không thể tách rời của hợp đồng mua bán căn hộ”.

Nhiều dự án bị “đấu tố”

Thực ra, việc phát hiện diện tích căn hộ bị chênh lệch (tăng hoặc giảm) so với diện tích ghi trong hợp đồng sau khi nhận nhà đã từng xảy ra ở không ít dự án từ cách đây gần chục năm.

Dự án căn hộ cao cấp bậc nhất Hà Nội khi đó là Keangnam cũng dính lùm xùm liên quan đến vấn đề này. Đến nay, tình trạng thiếu hụt hay tăng diện tích ở căn hộ chung cư vẫn xảy ra mặc dù đã có QCVN 04-1:2015/BXD và Thông tư số 03/2014/TT-BXD.

Đơn cử, gần đây, đại diện 150 khách hàng mua nhà ở dự án Trung tâm thương mại – văn phòng – căn hộ để bán và cho thuê Discovery Complex đã tập trung tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Kinh đô (Kinh Do TCI Group) để kiến nghị về tình hình chậm bàn giao nhà, tự ý tăng diện tích căn hộ.

Cụ thể, bỏ các tầng cây xanh thay vào đó là sàn thương mại hay căn hộ; bỏ cầu nối hai tòa tháp A – B; thay đổi ban công căn hộ vuông thành vát, diện tích căn hộ tăng lên, có căn tăng đến 15 m2, thậm chí lên đến 25 – 30m2.

Với việc tăng thêm diện tích các căn hộ, nếu chủ đầu tư điều chỉnh mà không có sự phê duyệt của các cơ quan chức năng, người dân sẽ gặp khó trong việc xin cấp giấy chứng nhận sở hữu căn hộ khi vào ở.

Nếu chủ đầu tư bàn giao căn hộ chênh lệch diện tích, người mua phải làm gì?

Sự chênh lệch giữa diện tích đo đạc thực tế tại thời điểm bàn giao với diện tích căn hộ ghi trên hợp đồng là khó tránh khỏi.

Nếu tổng diện tích một mặt sàn vẫn bảo đảm theo thiết kế được duyệt hoặc có sai số nhưng không đáng kể thì việc chênh lệch diện tích mỗi căn hộ vẫn có thể xảy ra, chẳng hạn do thiết kế, cách bố trí mặt bằng chưa hợp lý.

Khi mua bán căn hộ chung cư thì áp dụng theo mẫu hợp đồng mua bán căn hộ chung cư theo quy định của pháp luật trong mẫu hợp đồng mua bán căn hộ chung cư thương mại và trong quy chuẩn xây dựng không quy định về tỷ lệ sai số cho phép khi tính diện tích căn hộ được cấp phép xây dựng và diện tích sàn căn hộ sau cùng.

Vì vậy, việc xác định tỷ lệ % sai số này là do chủ đầu tư và khách hàng mua căn hộ tự thỏa thuận trong hợp đồng mua bán. Khi bàn giao, nếu diện tích sử dụng thực tế chênh lệch vượt quá tỷ lệ sai số ghi trong hợp đồng, thì giá bán căn hộ sẽ được điều chỉnh lại theo diện tích đo đạc thực tế.

Như vậy, hiện nay pháp luật không có quy định cụ thể về việc tăng hay giảm diện tích căn hộ, mà do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng. Theo đó, sau khi kiểm tra nếu diện tích tăng hay giảm quá ngưỡng quy định có hai hướng xử lý:

Thứ nhất, hai bên ngồi lại thương thảo với nhau lại giá bán căn hộ.

Thứ hai, bên mua có quyền trả lại nhà và bên bán có nghĩa vụ hoàn tiền cho bên mua.

Thứ ba, nếu các bên không thoả thuận được phương án xử lý thì các bên có thể đề nghị toà án có thẩm quyền xử lý.

Có nên cấp Sổ đỏ vĩnh viễn cho Condotel?

Luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW trả lời báo Một thế giới về vấn đề cấp sổ đỏ cho Condotel, mời các bạn xem nội dung tại đây:

1.Quan điểm của luật sư về việc cấp sổ đỏ vĩnh viễn cho loại hình Condotel?

Trả lời:

Condotel là loại hình bất động sản nghỉ dưỡng cho thuê và hiện chưa có văn bản, quy định pháp lý rõ ràng cho sản phẩm này. Thực tế trên thế giới, hầu hết các sản phẩm condotel đều chỉ được sở hữu 50 năm và không được sở hữu vĩnh viễn.

Tại Việt Nam, theo Khoản 3 Điều 126 Luật Đất đai năm 2013, về thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức để thực hiện các dự án đầu tư không quá 50 năm, tại những vùng khó khăn thì không quá 70 năm.

Như vậy, thời hạn tối đa sở hữu tài sản hình thành trên dự án này nếu có cũng phải theo thời hạn của dự án.

Dự án khu du lịch nghỉ dưỡng, căn hộ condotel thuộc đối tượng được sử dụng đất có thời hạn do không phải là dự án nhà ở. Theo đó, việc cấp sổ đỏ vĩnh viễn cho loại hình condotel là không phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2013.

Do vậy, theo tôi nên thực hiện theo hướng nhà đầu tư mua căn hộ condotel sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ và quyền sử dụng đất có thời hạn theo thời hạn sử dụng đất của dự án, khi hết hạn sử dụng đất thì được gia hạn nếu có nhu cầu theo quy định của pháp luật

2.Vì sao hiện nay các chủ đầu tư lại rất sốt sắng đề xuất vấn đề này? Có phải do họ đã cam kết cấp sổ đỏ (vĩnh viễn) cho khách hàng không?

Trả lời:

Một lý do quan trọng là nếu Condotel được cấp sổ đỏ vĩnh viễn sẽ giúp nhà đầu tư bán hàng nhanh hơn và tỷ lệ lợi nhuận cao.

Việc cấp sổ đỏ cho loại hình này sẽ giúp nhà đầu tư có cơ hội tiếp cận được với các nguồn tín dụng khi đầu tư căn hộ trong dự án vì chỉ khi có Giấy chứng nhận chủ sở hữu căn hộ mới có thể thế chấp chính căn hộ là tài sản hợp pháp của mình để vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng.

Mặt khác, sở dĩ chủ đầu tư quyết tìm cách gỡ cho người mua condotel có sổ đỏ vĩnh viễn bởi khi bán hàng, chủ đầu tư hứa và cam kết về sổ đỏ.

Một căn hộ condotel bán giá thấp nhất 25 triệu đồng/m2, nơi cao lên đến 45 triệu đồng/m2 không khác gì căn hộ cao cấp.

Trong khi đó, tiền sử dụng đất chủ đầu tư nộp chỉ là đất du lịch và không phải đất ở nên số chênh lệch nộp quá lớn khiến Nhà nước thất thu nếu cấp sổ đỏ vĩnh viễn cho loại hình căn hộ này. Nhóm lợi ích và lợi nhuận quá lớn khiến nhà đầu tư bằng mọi cách phải gỡ cho condotel.

3.Nếu cấp sổ đỏ (vĩnh viễn) cho loại hình này thì sẽ gây ra những hệ lụy gì?

Trả lời:

Như tôi đã trình bày ở trên, việc cấp sổ đỏ vĩnh viễn cho loại hình căn hộ này sẽ khiến Nhà nước thất thu khi tiền sử dụng đất chủ đầu tư nộp chỉ là đất du lịch và không phải đất ở.

Hơn nữa, để condotel được cấp sổ đỏ vĩnh viễn cần phải có sự đánh giá và chỉnh sửa đồng bộ hệ thống pháp luật liên quan tới đất đai, xây dựng, tài chính, … mà việc này lại không đơn giản.

Lấy ví dụ, chỉ riêng một yếu tố có chấp nhận đơn vị ở trên đất sản xuất kinh doanh hay không cũng là vấn đề phức tạp.

Theo Luật Xây dựng hiện hành, không có quy định tài sản là căn hộ trên đất được giao và cho thuê với mục đích sản xuất kinh doanh.

Như vậy, bên đăng ký đất đai cũng cứ căn cứ đó là công trình gắn với đất cho thuê, nên chỉ cấp giấy sở hữu tài sản có thời hạn.

Condotel là loại hình mới, pháp luật chưa ghi nhận cụ thể ở Luật Đất đai, Luật kinh doanh Bất động sản, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở…

Do đó, theo tôi, vấn đề quan trọng nhất là cần sớm xây dựng văn bản pháp luật đầy đủ để điều chỉnh loại hình kinh doanh này.

Tư vấn giải quyết tranh chấp về tiền lương

Câu hỏi: Tôi là Khánh. Tôi đang làm việc cho công ty dịch vụ ở Hà Nội. Tôi làm theo loại hình bán thời gian, không có ký hợp đồng lao động, chỉ làm việc dựa vào thỏa thuận qua email và đã làm việc từ 01/8/2017. Do sai phạm trong quá trình làm việc, công ty đã đơn phương chấm dứt thỏa thuận với tôi. Vào ngày 29/1/2018 sau khi họp với tôi và xác nhận tôi có sai phạm, yêu cầu tôi không được vào công ty nữa. Công ty đang trì hoãn việc thanh toán tiền lương và các quyền lợi liên quan cho tôi vì lý do là tôi sai phạm. Mặc dù việc thanh toán tiền lương đã có thỏa thuận giữa 2 bên thông qua email, nhưng giám đốc của tôi bảo rằng sẽ xem xét việc thanh toán lương cho tôi theo cảm tính chứ không theo như thỏa thuận giữa 2 bên. Xin hỏi: Tôi phải làm gì để bảo đảm quyền lợi của mình?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 16 Bộ luật lao động quy định:

“Điều 16. Hình thức hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói”.

Thì bạn bắt đầu làm việc từ 01/8/2017 đến 29/01/2018 đã quá 3 tháng mà bạn và công ty không ký HĐLĐ tức là đã vi phạm pháp luật.

Bây giờ phía công ty không muốn làm theo thỏa thuận như ban đầu và không muốn thanh toán tiền lương cho bạn thì bạn có thể giải quyết theo tranh chấp lao đông cá nhân. Trình tự, thủ tục quy định tại Điều 201 Bộ luật lao động:

“Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết”.

Vì bạn không nói rõ nên chúng tôi không biết chính xác thời điểm mà phía bên công ty thông báo sẽ không thanh toán tiền lương theo thỏa thuận ban đầu mà thanh toán theo cảm tính là khi nào nhưng bạn chỉ có thể yêu cầu giải quyết khi còn thời hiệu. Bộ luật lao động quy định:

“Điều 202. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”.

Nếu hết thời hiệu trên thì bạn không thể yêu cầu giải quyết được nữa.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà cùng các chuyên gia pháp lý thảo luận về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong chương trình kinh doanh và Pháp luật trên kênh VTV2. Mời quý vị đón xem tại đây:

 

 

UBND xã, phường có thẩm quyền chứng thực hợp đồng thuê xe?

Câu hỏi: Tôi là Hải. Hiện tôi có cho một người thuê xe để sử dụng, có hợp đồng được ký kết giữa 2 bên (cá nhân). Tuy nhiên, người thuê xe của tôi sử dụng vận chuyển hàng trái phép và bị bắt, tịch thu phương tiện. Theo quy định của pháp luật người thuê xe đã sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước. Để chứng minh điều này người vi phạm phải nộp hợp đồng có chứng thực của UBND xã, phường. Như vậy, UBND xã, phường có thẩm quyền chứng thực hợp đồng này hay không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Nghị định 23/2015/NĐ-CP quy định về vấn đề này như sau:

“Điều 5. Thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực

2. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền và trách nhiệm:

a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận;

b) Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản, trừ việc chứng thực chữ ký người dịch;

c) Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản;

b) Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai;

đ) Chứng thực hợp đồng, giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở;

e) Chứng thực di chúc;

g) Chứng thực văn bản từ chối nhận di sản;

h) Chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản mà di sản là tài sản quy định tại các Điểm c, d và đ Khoản này.

Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện ký chứng thực và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã”.

Như vậy, trong trường hợp này, UBND xã là cơ quan có thẩm quyền tiến hành chứng thực hợp đồng giữa bạn và người thuê xe của bạn.

Trong chương trình Luật sư doanh nghiệp của Kênh truyền hình kinh tế tai chính VITV, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật S&B Law, cùng với các chuyên gia đã trao đổi về chế định hợp đồng thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam. Mời quý vị đón xem:

Di sản thừa kế được xử lý như thế nào khi không đăng ký kết hôn?

Câu hỏi: Tôi là Huệ. Tôi có vấn đề sau mong quý công ty tư vấn giúp: Bố mẹ chồng tôi trước đây đi làm được phân 2 nhà, mua một nhà: một nhà không có sổ đỏ (chị chồng tôi đang ở cùng gia đình chị), một nhà sổ đỏ mang tên bố chồng tôi (hiện gia đình tôi và gia đình anh thứ hai ở), nhà mua thì anh cả ở. Gia đình chồng tôi có 4 anh em, mẹ chồng vẫn còn, bố chồng tôi đã mất năm 2012 (bố mẹ chồng tôi không có giấy đăng ký kết hôn vì bố tôi đã từng có vợ ở quê do gia đình cưới cho nhưng không đồng ý nên bỏ quê đi làm). Vậy nay bố chồng tôi mất không để lại di chúc gì thì tài sản (cả nhà có sổ và không có sổ) đó sẽ được xử lý như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Do không có căn cứ xác định thời điểm bố mẹ chồng bạn sống chung như vợ chồng với nhau trước hay sau ngày 1 tháng 3 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 nên chưa xác định được pháp luật có coi 2 người là vợ chồng hay không.

* Trường hợp thứ nhất: Bố mẹ chồng bạn chung sống trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 thì bố mẹ chồng bạn được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, thì đối với tài sản được tạo lập bằng công sức đóng góp của 2 vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ được xác định là tài sản chung của 2 vợ chồng. Theo đó, 2 căn nhà được phân và một căn nhà mua chung của bố mẹ chồng sẽ được xác định là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên, bạn cần xác định xem trong trường hợp này, người vợ trước của bố chồng bạn có quan hệ hôn nhân hợp pháp hay không? Nếu cũng bố chồng bạn với vợ cũ cũng được xác nhận là có quan hệ hôn nhân hợp pháp thì trong trường hợp này, những tài sản được tạo lập do công sức của bố chồng bạn hoặc người vợ cũ thì đều xác đinh là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; như vậy, việc xác định phần tài sản của bố chồng bạn cụ thể như thế nào phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân cụ thể của bố bạn.

* Trường hợp thứ hai: Bố mẹ chồng bạn chung sống từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 thì do bố mẹ chồng bạn không có đăng ký kết hôn nên về mặt pháp lý sẽ không được công nhân là vợ chồng.

Do đó, tài sản bảo gồm 3 căn nhà thì sẽ phải xác định rõ phần tài sản của ba chồng và mẹ chồng bạn trong khối tài sản chung theo quy định của pháp luật dân sự.

khi bố bạn mất, do bố chồng bạn không để lại di chúc thì phần tài sản của bố bạn trong khối tài sản chung sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế, việc xác định hàng thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

+ Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ/chồng, con, bố/mẹ đẻ

+ Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông /bà nội/ngoại, anh/chị/em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông/bà nội/ngoại

+ Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ /cụ ngoại; bác/chú/cậu/cô/dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết

Những người trong cùng hàng thừa kế sẽ được chia thành các phần bằng nhau.

Như vậy, trong trường hợp này, ngoài mẹ chồng và chị chồng bạn ra, chồng bạn và những người con khác của bố chồng bạn cũng được hưởng phần di sản thừa kế của bố chồng bạn.

Trong chương trình Nhịp cầu Netviet, Kênh VTC10, luật sư Nguyễn Thanh Hà chủ tịch SBLAW đã trả lời phóng viên về tình huống quyền thừa kế quyền sử dụng đất của Việt Kiều. Mời quý vị đón xem:

Có được chuyển nhượng, tách sổ đỏ đất quy hoạch?

Câu hỏi: Tôi là An. Tôi mua một lô đất với diện tích 100m2, do đang nằm trong quy hoạch nên không tách được sổ đỏ. Tôi có quyền sở hữu mảnh đất đó nhưng không có tên trong sổ đỏ nên gặp nhiều rắc rối trong các giao dịch và tiềm ẩn nhiều nguy cơ tranh chấp sau này. Xin hỏi: Giờ tôi muốn thêm tên vào sổ đỏ có được không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Khoản 2 Điều 49 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện, người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm. Nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật.

Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định:

Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của luật.

Từ những căn cứ của pháp luật được viện dẫn ở trên, nếu thửa đất bạn mua trong diện quy hoạch nhưng chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất vẫn có quyền chuyển nhượng một phần thửa đất đó cho bạn theo quy định của pháp luật và bạn hoàn toàn có quyền làm thủ tục trước bạ, sang tên tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trừ trường hợp diện tích 100m2 đó chưa đủ diện tích tối thiểu để tách thửa theo quy định của UBND cấp tỉnh nơi thửa đất tọa lạc.

Pháp luật chưa có quy định về việc thêm tên vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người nhận chuyển nhượng trong trường hợp người nhận chuyển nhượng không tách được sổ đỏ. Do vậy, thời điểm hiện tại, bạn không thể đề nghị cơ quan nhà nước thêm tên của bạn vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW đã tư vấn về nội dung: Hành vi lấn chiếm đất dự án bị xử lý thế nào? Mời quý vị đón xem:

Các loại tài sản bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu?

Câu hỏi: Tôi là Phi, ở Hà Nội. Qúy công ty cho tôi hỏi: Những loại tài sản nào nhà nước bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Đăng ký quyền sở hữu được hiểu là việc thực hiện thủ tục với cơ quan nhà nước nhằm ghi nhận quyền sở hữu tài sản của người đó. Điều 106 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về đăng ký tài sản như sau:

Điều 106. Đăng ký tài sản 

1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản.

2. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.

3. Việc đăng ký tài sản phải được công khai”.

Như vậy việc đăng ký tài sản là bất động sản, động sản được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Có thể điểm qua một số loại tài sản như sau:

– Bất động sản: Nhà, đất, tài sản và các công trình gắn liền với nhà ở, với đất, …

– Động sản: tàu bay, tàu biển, phương tiện giao thông đường thủy, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông đường sắt, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, …

Video giới thiệu về luật sư Nguyễn Thanh Hà chủ tịch công ty Luật SBLaw. Trong video luật sư Nguyễn Thanh Hà chia sẻ về kinh nghiệm hành nghề luật sư và quản trị công ty luật tại Việt Nam, cách thức chăm sóc khách hàng trong lĩnh vực tư vấn pháp lý, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư nước ngoài và sở hữu trí tuệ. Mời quý vị đón xem:

Doanh nghiệp có thể có bao nhiêu người đại diện theo pháp luật?

Câu hỏi: Tôi là Long, ở Hà Nội. Công ty tôi là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Vậy thì có thể có 2 người đại diện theo pháp luật có được không? Hiện công ty đã có 1 người, bây giờ muốn thêm 1 người nữa làm người đại diện theo pháp luật.

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 13 Luật doanh nghiệp 2014 quy định như sau: 2. Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”.

Theo quy định này của LDN thì công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần sẽ không bị giới hạn về số lượng người đại diện theo pháp luật. Vì vậy công ty bạn hoàn toàn có thể bổ sung thêm 1 người đại diện theo pháp luật nữa để đảm bảo hoạt động kinh doanh, đại diện cho công ty khi cần thiết, lưu ý là người đại diện mới phải đảm bảo các điều kiện mà pháp luật quy định đối với người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Luật doanh nghiệp 2005 thì mỗi doanh nghiệp chỉ được phép có duy nhất một người đại diện theo pháp luật còn doanh nghiệp 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015 đã tạo lên một sư thay đổi lớn đó là cho phép doanh nghiệp được có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật. Mời quý vị đón xem tại đây:

Tư vấn thủ tục lập địa điểm kinh doanh

Câu hỏi: Tôi là Hoàn. Công ty tôi là công ty thiết kế nội thất, có trụ sở ở quận Thanh Xuân. Nay tôi muốn mở thêm xưởng sản xuất ở quận Cầu Giấy. Vậy tôi cần phải làm những thủ tục gì? Có cách nào để xưởng sản xuất hạch toán kế toán chung sổ sách với công ty luôn được không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì công ty bạn có trụ sở chính tại quận Thanh Xuân, nay muốn mở thêm 1 xưởng sản xuất tại quận Cầu Giấy, cùng thuộc thành phố Hà Nội. Đối với xưởng sản xuất tại quận Cầu Giấy, bạn thực hiện thủ tục lập địa điểm kinh doanh căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 33 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP:

“Địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp có thể ở ngoài địa chỉ đăng ký trụ sở chính. Doanh nghiệp chỉ được lập địa điểm kinh doanh tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính hoặc đặt chi nhánh”.

Thủ tục lập địa điểm kinh doanh:

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định lập địa điểm kinh doanh, doanh nghiệp gửi thông báo lập địa điểm kinh doanh đến Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung thông báo gồm:

a) Mã số doanh nghiệp;

b) Tên và địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;

c) Tên, địa chỉ địa điểm kinh doanh;

d) Lĩnh vực hoạt động của địa điểm kinh doanh;

đ) Họ, tên, nơi cư trú, số chứng minh nhân dân hoặc Hộ Chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác quy định tại Điều 10 Nghị định 78/2015/NĐ-CP của người đứng đầu địa điểm kinh doanh;

e) Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đối với trường hợp địa điểm kinh doanh trực thuộc doanh nghiệp.

Phòng Đăng ký kinh doanh sau khi nhận hồ sơ hợp lệ trong thời hạn 03 ngày làm việc sẽ tiến hành cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động địa điểm kinh doanh.

Đối với địa điểm kinh doanh cùng tỉnh, thành phố với trụ sở chính công ty thì công ty tiến hành khai thuế, nộp thuế cho địa điểm kinh doanh:

– Thuế Giá trị gia tăng:

Điểm b khoản 1 Điều 11 Thông tư 156/2013/TT-BTC“b) Trường hợp người nộp thuế có đơn vị trực thuộc kinh doanh ở địa phương cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cùng nơi người nộp thuế có trụ sở chính thì người nộp thuế thực hiện khai thuế giá trị gia tăng chung cho cả đơn vị trực thuộc.”

– Thuế Thu nhập doanh nghiệp:

Điều 16 Thông tư 151/2014/TT-BTC“…c) Trường hợp người nộp thuế có đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán phụ thuộc thì đơn vị trực thuộc đó không phải nộp hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp; khi nộp hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp, người nộp thuế có trách nhiệm khai tập trung tại trụ sở chính cả phần phát sinh tại đơn vị trực thuộc…”.

Dưới đây là video Hội thảo pháp lý cho doanh nghiệp Start up của SBLAW. Mời quý vị đón xem: