Cho vay tài sản nhưng bên vay không có khả năng chi trả thì phải làm sao?

Câu hỏi: Tôi là Thịnh, ở Hải Dương. Bố tôi có cho ông X (hàng xóm) vay 100 triệu, lãi suất 1,5%/tháng. Viết giấy tay, ghi rõ khi nào bên cho vay lấy gốc thì sẽ báo cho bên vay trước 1 tháng. Tiền lãi sẽ trả hàng tháng. Tuy nhiên, ông X chỉ trả lãi được 5 tháng đầu do ông X đề đóm nên mất trắng. Từ đó đến nay đã được 04 năm, bố tôi chưa nhận thêm được khoản nào, cả gốc và lãi. Bố tôi và ông X nói chuyện nhiều lần nhưng vẫn không trả. Xin hỏi: Bố tôi có thể khởi kiện ông X được không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo những thông tin bạn cung cấp, hiện nay giữa bố bạn và ông X đang có quan hệ vay tiền và được thể hiện thông qua giấy vay tiền viết tay, trong đó trong đó thỏa thuận rõ bên cho vay, ở đây là Bố bạn cho ông X vay số tiền là 100 triệu đồng, với mức lãi suất 1,5%/ tháng. Số tiền lãi sẽ được trả hàng tháng, và thời điểm trả số tiền gốc được bên cho vay báo trước cho ông X trước một tháng.

Trong trường này, giấy vay tiền được ký kết giữa bố bạn (bên cho vay) và ông X (bên vay) được xác lập như một hợp đồng vay tài sản, bởi căn cứ theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:

“Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”.

Như vậy, có thể thấy, trong giấy vay tiền các bên đã ký kết, các bên đã không xác định cụ thể về thời điểm trả tiền gốc, mà chỉ quy định về việc trả tiền lãi hàng tháng, nên hợp đồng vay tài sản, cụ thể ở đây là giấy vay tiền được xác định là hợp đồng vay không có kỳ hạn. Các bên sẽ phải có nghĩa vụ thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận khi xác lập quan hệ vay tiền.

Tuy nhiên, trên thực tế, ông X chỉ trả lãi được 05 tháng đầu tiên, những tháng tiếp theo đều không trả tiền lãi mặc dù bố của bạn đã nhiều lần đề nghị. Có thể thấy, ông X đang có hành vi vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng vay tài sản (hợp đồng vay tiền), vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Trong trường hợp này, theo quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:

“Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1, Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2, Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3, Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4, Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5, Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi ông X vay tiền của bố bạn sẽ phải trả đủ tiền khi đến hạn, bao gồm các khoản tiền lãi của từng tháng chưa trả, và khoản tiền gốc khi bố bạn đã có thông báo về thời điểm trả tiền gốc. Đồng thời, đây là quan hệ vay tiền có lãi nên khi đến hạn trả lãi hàng tháng mà ông X không trả hoặc trả không đầy đủ thì ông X còn phải thực hiện việc trả lãi theo quy định gồm:

  • Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong giấy vay tiền tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả.
  • Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận trong giấy vay tiền.
  • Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo thỏa thuận trong giấy vay tiền tương ứng với thời gian chậm trả.

Trong trường hợp này, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bố bạn hoàn toàn có quyền nộp đơn khởi kiện ông X ra Tòa án để yêu cầu ông X thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo nội dung đã thỏa thuận trong giấy vay tiền, và yêu cầu khoản tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật.

Vụ việc bà Chu Thị Bình bị mất 245 tỷ đồng tại tài khoản tiết kiệm ở ngân hàng Eximbank mới đây được dư luận quan tâm. Việc thất thoát số tiền lớn từ tài khoản của khách hàng và quá trình giải quyết vụ việc này đặt ra không ít vấn đề trong công tác quản lý tài sản của ngân hàng, trong việc bảo đảm an toàn tiền gửi cũng như những vấn đề pháp lý nảy sinh liên quan đến hợp đồng cho vay, thế chấp tài sản. Về nội dung này, trong chương trình hôm nay chúng tôi mời đến phòng thu luật sư Nguyễn Thanh Hà–Công ty SB Law. Cảm ơn ông đã tham gia chương trình.

Mời quý vị đón xem tại đây:

 

Bên cho thuê có được chấm dứt hợp đồng khi bên thuê không trả tiền thuê đúng quy định?

Câu hỏi: Tôi là Thản, ở Quảng Ninh. Tôi có cho một người thuê nhà với thời hạn 05 năm, đóng tiền thuê nhà 03 tháng một lần. Tuy nhiên, gần đây, sau 06 tháng mà bên thuê nhà vẫn chưa trả tiền thuê nhà cho tôi, cũng như cũng không có ý định rời khỏi căn nhà của tôi. Vậy xin cho hỏi: Trong trường hợp này tôi có thể chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn hay không? Trong hợp đồng thuê nhà không nói rõ về vấn đề này.

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 481 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trả tiền thuê:

“1. Bên thuê phải trả đủ tiền thuê đúng thời hạn đã thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả tiền thuê thì thời hạn trả tiền thuê được xác định theo tập quán nơi trả tiền; nếu không thể xác định được thời hạn theo tập quán thì bên thuê phải trả tiền khi trả lại tài sản thuê.

2. Trường hợp các bên thỏa thuận việc trả tiền thuê theo kỳ hạn thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nếu bên thuê không trả tiền trong ba kỳ liên tiếp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà nếu bên thuê nhà không trả tiền cho bạn trong ba kỳ liên tiếp, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác. Do đó, căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, hai bên không thỏa thuận về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà trong hợp đồng thuê nhà. Bên thuê nhà đã 06 tháng không nộp tiền nhà cho bạn, tức là bên thuê nhà đã không trả tiền thuê nhà cho bạn trong hai kỳ liên tiếp (vì hai bên thỏa thuận trả tiền thuê 03 tháng/lần). Chính vì vậy, bạn vẫn chưa có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê với bên cho thuê vì chưa đáp ứng đủ điều điện của pháp luật. Trừ một trong các trường hợp sau:

Một là, bạn thỏa thuận được với bên cho thuê về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê trước thời hạn mà bên thuê nhà đồng ý.

Hai là, bên thuê nhà sử dụng tài sản không đúng mục đích, không đúng công dụng thì bạn có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại (theo khoản 2 Điều 480 Bộ Luật Dân sự năm 2015).

Ba là, trong trường hợp, bên thuê vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng thuê nhà thì căn cứ Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015 bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn.

“Điều 428. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.

4. Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường.

5. Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng”.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW đã có phần tư vấn về vấn đề bỏ quản lý dân cư bằng hộ khẩu giấy, thay bằng mã số định danh trong bản tin Việt Nam ngày nay, kênh NetvietTV. Mời các bạn đón xem tại đây:

“Ngáo đá” có phải là mất năng lực hành vi dân sự?

Câu hỏi: Tôi là Phong, ở Hải Phòng. Qúy công ty cho tôi hỏi: “Ngáo đá” có phải là mất năng lực hành vi dân sự không? Khi vi phạm pháp luật hình sự thì có được giảm nhẹ hình phạt không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Thứ nhất, “Ngáo đá” có phải là mất năng lực hành vi dân sự không?

Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự

1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Theo quy định trên thì người mất năng lực hành vi dân sự là người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thưc, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc tổ chức hữu quan thì Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó bị mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định pháp y tâm thần.

Như vậy, “ngáo đá” làm cho con người ta không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình giống như như việc mất năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, người bị “ngáo đá” biết trước được rằng khi sử dụng chất kích thích có trong ma túy đá sẽ dẫn tới hậu quả trên nhưng vẫn cố tình sử dụng, tự làm cho mình bị giảm sút, khó khăn hoặc mất nhận thức, không thể điều chỉnh hành vi của chính mình. Chính vì vây, pháp luật hiện hành không coi “ngáo đá” là mất năng lực hành vi dân sự.

Thứ hai, khi vi phạm pháp luật hình sự thì có được giảm nhẹ hình phạt không?

Người bị “ngáo đá” vi pháp pháp luật hình sự vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của tại Điều 13 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) như sau:

Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác

Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trong chương trình Hiểu đúng làm đúng trên kênh truyền hình quốc hội, luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW đã có phân phân tích về hành vi trục lợi bảo hiểm xe cơ giới.

Mời quỳ vị đón xem:

Sử dụng hình ảnh của cá nhân có phải được sự đồng ý của người đó không?

Câu hỏi: Tôi là Nguyệt, ở Hà Nội. Qúy công ty cho tôi hỏi: Việc sử dụng hình ảnh cá nhân có phải được sự đồng ý của người đó không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình, đây là một nội dung cơ bản trong quyền nhân thân của cá nhân, nó gắn liền với mỗi cá nhân và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Cụ thể:

Điều 32 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:

a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;

b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Với sự phát triển mạnh mẽ của các mạng xã hội hiện nay thì quyền của cá nhân đối với hình ảnh đang bị xâm phạm nghiêm trọng hàng ngày, hàng giờ. Do đó, vấn đề bảo vệ quyền về hình ảnh của cá nhân ngày càng được quan tâm và chú trọng. Khi quyền của cá nhân đối với hình ảnh bị xâm phạm, cá nhân có quyền bảo vệ quyền nhân thân này của mình thông qua các phương thức: Yêu cầu Tòa án ra quyết định liên quan bao gồm buộc chủ thể vi phạm hoặc liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại (nếu có); áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, căn cứ theo quy định của pháp luật, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà từ công ty luật SBLAW có phần tư vấn về chế tài xử lý đối với hành vi buôn lậu thuốc tân dược trong tiểu phẩm Hiểu đúng làm đúng kênh Truyền hình Quốc hội. Mời quý vị đón xem:

 

Chưa hết thời hạn cho mượn nhà nhưng muốn đòi lại thì có được không?

Câu hỏi: Tôi là Huy. Tôi có hai ngôi nhà, gia đình tôi sử dụng một căn nhà, còn một căn nhà còn lại tôi cho gia đình anh X (một người bạn của tôi) mượn sử dụng từ năm 2010 đến nay. Chúng tôi định cho gia đình anh X sử dụng đến khi chúng tôi có nhu cầu sử dụng, nhưng khi muốn lấy lại thì cần thông báo cho anh X khoảng 01 tháng để anh X tìm nhà ở mới. Hiện nay, do trong gia đình có người ốm nặng cần tiền để chữa trị nên tôi muốn lấy lại căn nhà đã cho anh X mượn để bán nhà lấy tiền điều trị. Nhưng anh X cương quyết không muốn trả lại nhà cho tôi. Vậy xin cho hỏi: Tôi có thể lấy lại nhà được hay không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo như thông tin bạn cung cấp, giữa bạn và anh X có phát sinh hợp đồng mượn tài sản, có thỏa thuận về thời hạn cho mượn, điều kiện chấm dứt hợp đồng mượn nhà trước thời hạn. Căn cứ theo Điều 499 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền của bên cho mượn tài sản:

“1. Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý.

2. Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn.

3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản do bên mượn gây ra”.

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp, bạn cho anh X mượn nhà để ở từ năm 2010 đến nay, dự định khi nào gia đình bạn có nhu cầu sử dụng thì có quyền lấy lại nhà bất cứ khi nào mà chỉ cần báo trước cho anh X trước một tháng. Căn cứ theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý. Chính vì vậy, trong trường hợp này của bạn, vì gia đình có người bị ốm nặng nên cần có tiền để chữa trị – đây được xem là nhu cầu đột xuất và cấp bách, bạn hoàn toàn có quyền đòi lại nhà và bạn chỉ cần báo cho anh X trước 01 tháng.

Trong trường hợp, anh X cố tình không trả lại nhà, bạn có quyền làm đơn khởi kiện nộp lên Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã nơi có đất để yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề này giúp bạn.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW có phần trao đổi về cách thức đòi nợ theo đúng quý định của pháp luật trong chương trình làm đúng hiểu đúng kênh truyền hình quốc hội. Mời quý vị đón xem tại đây:

Người giám hộ có được bán tài sản của người được giám hộ không?

Câu hỏi: Tôi là Tĩnh, ở Phú Thọ. Qúy công ty cho tôi hỏi: Theo quy định hiện hành thì người giám hộ có được bán tài sản của người được giám hộ không?

Luật sư tư vấn:

Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đén dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Điều 59 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

“1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.

Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ”.

Theo quy định tại Điều 59 trên về việc quản lý tài sản của người giám hộ. Việc quản lý tài sản được quy định 04 nội dung chính sau:

– Thứ nhất, người giám hộ có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình. Quy định này nhấn mạnh trách nhiệm của người giám hộ đối với tài sản của người được giám hộ. Theo đó, quy định yếu cầu sự tận tâm và thực hiện mọi hành vi trong khả năng có thể để thực hiện việc quản lý tài sản, cũng chính là để thực hiện việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

– Thứ hai, người giám hộ khi thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản có giá trị lớn bao gồm: bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cộc và các giao dịch khác phải có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. Các giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị lớn là nguồn có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của người được giám hộ. Vì vậy, các giao dịch này chỉ được xác định là đủ điều kiện khi có đặt dưới sự giám sát, có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

– Thứ ba, người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Việc quản lý tài sản của người được giám hộ là để thực hiện việc chăm sóc, giáo dục, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pahsp của người giám hộ, tài sản của người được giám hộ đặt dưới sự quản lý của người được giám hộ, tuy nhiên không có nghĩa người giám hộ là chủ sở hữu đối với tài sản này.

– Thứ tư, các giao dịch dân sự giữa người dám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu.

Như vậy, căn cứ vào quy định trên, người giám hộ chỉ được bán tài sản của người được giám hộ khi việc bán nó là để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ và được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW đã có phần trao đổi về Những điểm mới của chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự trong chương trình Bạn và pháp luật, kênh VOV1, Đài tiếng nói Việt Nam.

Mời quý vị đón xem tại đây:

Chi phí để đăng ký kiểu dáng công nghiệp.

Câu hỏi: Chúng tôi là một doanh nghiệp sản xuất, chúng tôi sáng tạo ra một kiểu dáng công nghiệp đối với một cái chai, đề nghị SBLAW báo phí tư vấn và đăng ký?

Trả lời: Về câu hỏi của doanh nghiệp, chúng tôi tư vấn như sau:

1. Tra cứu kiểu dáng công nghiệp: 10 đến 15 ngày làm việc và chi phí là 5 triệu đồng.
2. Đăng ký kiểu dáng công nghiệp: 1 năm và chi phí là 10 triệu đồng.
Phí trên gồm phí Cục sở hữu trí tuệ và phí luật sư, chưa gồm 5% VAT
Để biết thêm thủ tục đăng ký kiểu dáng công nghiệp, mời Quý vị xem Video tư vấn của luật sư SBLAW dưới đây:

Hình phạt nào cho người dùng súng bắn chim, bắn nhầm người ?

Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW đã trả lời trên Truyền hình quốc hội trong Chương trình Hiểu Đúng – Làm Đúng về tình huống Vô ý giết người. Dưới đây là nội dung chi tiết:

Tình huống: Anh Tài với anh Trọng có sở thích bắn chim, trong một lần lên đê rình bắn chim ở trên cây, anh Thắng đã vô ý bắn vào người anh Trọng đang đứng gần đấy khiến anh Trọng thiệt mạng. Chị Hoa vợ anh Thắng sợ hãi đã tìm đến luật sư xin tư vấn.

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, với hậu quả làm chết người của hành vi sử dụng súng săn:

Đối với hành vi trên của anh Thắng đã dẫn tới hậu quả nghiêm trọng là làm chết người, do đó hành vi này anh Thắng sẽ bị xử lý hình sự. Cụ thể anh Thắng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vô ý làm chết người được quy định tại Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) vì trong trường hợp này anh Thắng đã vô ý bắn vào người anh Trọng khiến anh Trọng thiệt mạng. Theo đó:

“Điều 128. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm”.

Như vậy, trong trường hợp này anh Thắng có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Thứ hai, xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng súng săn

Đối với hành vi sử dụng súng săn trên của anh Thắng là trái quy định của pháp luật, cụ thể theo Điều 5 Luật quản lý sử dụng vũ khí vật liệu nổ công cụ hỗ trợ năm 2017 thì những hành vi sau sẽ bị nghiêm cấm:

“1. Cá nhân sở hữu vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, trừ vũ khí thô sơ là hiện vật để trưng bày, triển lãm, đồ gia bảo.

2. Nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển, sửa chữa, sử dụng trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ hoặc chi tiết, cụm chi tiết để lắp ráp vũ khí, công cụ hỗ trợ …”.

Với hành vi trên anh Thắng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo điểm đ Khoản 3 Điều 10 Nghị định 167/2013 NĐ – CP:

“3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

đ) Sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép;”.

Ngoài ra sẽ bị áp dụng thêm hình thức phạt bổ sung theo điểm a, khoản 8, Điều 10 của Nghị định này là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Thứ ba, trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hậu quả làm chết người

Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

“Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”.

Với hậu quả trên anh Thắng phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho gia đình anh Trọng. Và cụ thể trong trường hợp này là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo quy định tại Điều 601 BLDS:

“Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”.

Vì hành vi sử dụng vũ khí dẫn tới hậu quả chết người, vì thế nên anh Thắng phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm hại được xác định cụ thể như sau:

“Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.

Trong chương trình Hiểu đúng làm đúng trên kênh truyền hình quốc hội, luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW đã có phân phân tích về hành vi trục lợi bảo hiểm xe cơ giới.

Mời quý vị đón xem tại đây:
 

Hành vi tổ chức đánh bạc sẽ bị xử lý ra sao?

Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch Công ty Luật TNHH SB LAW đã trả lời trên Truyền hình Quốc hội trong chương trình Hiểu Đúng – Làm Đúng về tình huống Tổ chức đánh bạc. Dưới đây là nội dung chi tiết:

Tình huống: Anh Trọng là sếp một cơ quan nhà nước nhưng chị Thu vợ anh Trọng lại ham mê cờ bạc, và còn điều hành cả một đường dây đánh bạc công nghệ cao. Và trong một lần mọi người ở cơ quan anh Trọng đến chơi mà anh Trọng đi vắng, chị Thu đã rủ rê mọi người cùng tham gia đánh bạc và bị công an bắt tại trận. Anh Trọng lo lắng nên đã tìm đến luật sư xin tư vấn

Luật sư tư vấn:

Theo như anh trình bày, thì vợ anh (chị Thu) đã có hành vi rủ rê mọi người cùng tham gia đánh bạc tại nhà và còn điều hành cả 1 đường dây đánh bạc trên mạng.

Xét hành vi trên thì vợ anh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội tổ chức đánh bạc được quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cụ thể:

Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên;

d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;

đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, trong tình huống này chị Thu có thể bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Ngoài ra, chị Thu còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW có phần trao đổi về cách thức đòi nợ theo đúng quý định của pháp luật trong chương trình làm đúng hiểu đúng kênh truyền hình quốc hội.

Mời các bạn đón xem tại đây:

GIẾT NGƯỜI TRONG TÌNH TRẠNG ẢO GIÁC SẼ BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?

Nguồn Internet

Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Chủ tịch công ty Luật TNHH SB Law đã trả lời trên Truyền hình Quốc hội trong chương trình Hiểu đúng – Làm đúng về tình huống Giết người trong tình trạng ảo giác. Dưới đây là nội dung chi tiết:

Tình huống: Anh Trọng, anh Tài với anh Thắng đều là những thanh niên lêu lổng. Trong 1 lần tụ tập hút ma túy tập thể, anh Trọng đã bị ảo giác nên đã vô tình sát hại bạn chơi ma túy bằng tỏi. Sau khi anh Trọng bị bắt lên đồn, chị Hoa – chị của anh Trọng đã tìm đến luật sư xin tư vấn.

Luật sư tư vấn:

Theo như chị trình bày thì anh Trọng đã cùng chị Thu và một số đối tượng khác (anh Tài, anh Thắng) sử dụng ma túy. Sau đó, do có ảo giác “ngáo đá”, anh Trọng đã cho tỏi vào miệng chị Thu dẫn tới bịt đường hô hấp làm nạn nhân tử vong.

Nguyên nhân chết và cơ chế hình thành vết thương gây tử vong sẽ được cơ quan chuyên môn pháp y, tử thi giám định để làm căn cứ xử lý nghi phạm theo quy định của pháp luật.

Trong những tình huống như thế này thì có có 2 tội danh có thể đặt ra, thứ nhất có thể là Tội Giết người (Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015) với lỗi gián tiếp hoặc có thể là tội Vô ý làm chết người (Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015). Cụ thể:

Điều 123. Tội giết người

1.Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

…………………………………………

Điều 128. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Hai tội danh này khác nhau. Trước hết khác nhau ở mức hình phạt, tội Vô ý làm chết người khung hình phạt cao nhất lên đến 10 năm, tội Giết người có khung hình phạt lên đến tử hình.

Yếu tố cấu thành tội phạm của hai tội này cũng rất khác nhau. Đối với tội Giết người thì hành vi phải là lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp.

Cố ý trực tiếp là biết hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội, mong muốn hậu quả chết người xảy ra. Còn cố ý gián tiếp là biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội ấy và bỏ mặc cho hậu quả chết người đó xảy ra.

Lỗi vô ý làm chết người thể hiện không mong muốn hậu quả chết người xảy ra, không tưởng tượng được hậu quả chết người xảy ra.

Nếu cơ quan điều tra chứng minh được là anh Trọng biết hành vi nhét củ tỏi ấy, trong tư thế ấy và con người ấy mà có thể dẫn đến chết người, nhưng cứ nhét vào bỏ mặc hậu quả, chết cũng được không chết cũng được thì chắc chắn khởi tố được tội danh Giết người với lỗi cố ý gián tiếp.

Còn trong trường hợp nhận thức của đối tượng không thể dẫn đến chết người được và hành vi đấy cũng không có mục đích mong muốn hậu quả chết người nhưng hậu quả chết người vẫn xảy ra. Ở đây lỗi này là lỗi vô ý do quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả, thì sẽ bị khởi tố tội danh Vô ý làm chết người.

Ngáo đá có phải là tình tiết giảm nhẹ không?

Dưới góc độ luật pháp, việc người sử dụng ma túy gây các tội ác trong tình trạng loạn thần nặng nhưng không phải là tình tiết giảm nhẹ. Pháp luật buộc công dân phải nhận thức được tác hại khi sử dụng các chất kích thích sẽ dẫn tới tình trạng mất kiểm soát hành vi nên khi hậu quả xảy ra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Điều 13 BLHS năm 2015 đã có quy định về trường hợp người phạm tội trong tình trạng say rượu hoặc các chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự và “ngáo đá” cũng không ngoại lệ.

Theo như chị trình bày thì anh Thắng là người rủ rê anh Trọng, anh Tài, chị Thu sử dụng ma túy. Do đó, cần thiết phải làm rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của anh Thắng để xử lý theo quy định tại Điều 255 BLHS năm 2015.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

d) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

đ) Đối với người đang cai nghiện;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

d) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

b) Làm chết 02 người trở lên.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Trong chuyên mục Hiểu đúng làm đúng kênh truyền hình quốc hội, luật sư Nguyễn Thanh Hà sẽ tư vấn cho khán giả về việc xử lý hành vi đe doạ giết người theo pháp luật Việt Nam.

Mời Quý vị đón xem tại đây:

 

Người nước ngoài có được mua chung cư tại Việt Nam?

Câu hỏi: Bạn mình là nười nước ngoài (Singapore), bạn mình muốn mua một căn hộ chung cư tại Việt Nam. Không biết theo quy định pháp luật thì có được không?

Trả lời:

Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014 quy định như sau:

1. Đối tượng tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam bao gồm:

a) Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;

b) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức nước ngoài);

c) Cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua các hình thức sau đây:

a) Đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;

b) Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.

Căn cứ theo quy định trên thì bạn của bạn có thể mua chung cư ở Việt Nam, tuy nhiên khi thực hiện giao dịch mua bán, bạn của bạn phải xuất trình được hộ chiếu còn giá trị có đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh Việt Nam và không thuộc diện được quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao theo quy định của Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan Đại diện ngoại giao, cơ quan Lãnh sự và cơ quan Đại diện của Tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Để tránh các rủi ro có thể mắc phải thì cần xác định người ký hợp đồng mua bán là chủ đầu tư hoặc người đại diện có thẩm quyền; giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của chủ đầu tư phải có ngành nghề kinh doanh bất động sản, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc quyền thuê đất, có Giấy phép xây dựng và giấy tờ xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính. Hợp đồng cần được công chứng, chứng thực, trong hợp đồng xác định rõ thông tin của các bên, đặc điểm của căn hộ, quyền và nghĩa vụ các bên, thời hạn thanh toán, phương thức thanh toán, thời điểm bàn giao nhà và cấp sổ hồng (Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở).

Trong phóng sự Đảm bảo quyền lợi của cư dân tại các khu chung cư phát trên VTV1, luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW đã có phần bình luận về việc đảm bảo quyền lợi của dân cư tại chung cư. Mời quý vị đón xem đoạn videos sau:

Những điều cần lưu ý khi mua Condotel

Câu hỏi: Tôi là Khánh, hiện nay Condotel rất đang nóng trên thị trường bất động sản nên tôi cũng đang tìm hiểu về Condotel và có ý định mua. Qúy công ty có thể tư vấn giúp tôi khi mua Condotel thì tôi phải những lưu ý gì để tránh rủi ro?

Trả lời:

Condotel là từ được viết tắt của Condo & Hotel có ý nghĩa là Khách sạn căn hộ hay Căn hộ khách sạn. Đây là khái niệm rất phổ biến trên thị trường thế giới nhưng vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam. Với việc mang lại những giá trị “kép”, condotel đang trở thành xu hướng đầu tư mới của bất động sản nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, Condotel cũng tiềm ẩn những rủi ro mà bạn cần biết, trước khi quyết định “sở hữu” một thứ tài sản như vậy.

Thứ nhất, về Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

Mặc dù chủ đầu tư đều cam kết khách hàng sẽ nhận được giấy chứng nhận sở hữu với thời hạn lâu dài nhưng thực tế hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở nhưng lại phục vụ cho mục đích kinh doanh du lịch và thực tế là đến nay mới có vài dự án được một số tỉnh “xé rào” cấp “sổ hồng”, còn hầu hết căn hộ condotel chưa được cấp. Việc không được cấp “sổ hồng” sẽ gây ra nhiều hệ luỵ, vì nhà nước chưa công nhận quyền sở hữu của chúng ta, khi đó chúng ta là chủ nhưng lại không có quyền định đoạt tài sản của mình.

Thứ hai, thời hạn sử dụng

Tuy chủ đầu tư cam kết rằng người mua sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (nhà ở, đất ở được luật quy định là sở hữu lâu dài, hay nói cách khác là vô thời hạn) nhưng phải khẳng định, condotel không phải là nhà ở được xây trên đất ở mà đây là loại đất nhà nước giao quyền sử dụng vào mục đích kinh doanh du lịch. Theo đó, Khoản 3 Điều 126 Luật Đất đai năm 2013 về thời hạn giao đất có quy định, cho thuê đất đối với các tổ chức để thực hiện các dự án đầu tư, là không quá 50 năm. Điều này có nghĩa, Dự án khu du lịch nghỉ dưỡng, căn hộ condotel thuộc đối tượng được sử dụng đất có thời hạn, theo dự án.

Thứ ba, lợi nhuận đã cam kết

Hầu hết người mua Condotel không có mục đích ở mà có mục đích nghỉ dưỡng kết hợp kinh doanh. Sự hấp dẫn từ cam kết hưởng lợi nhuận từ 8-10% một năm từ chủ đầu tư thực tế lại không dễ dàng thực hiện. Trong trường hợp chủ đầu tư không thực hiện thì người mua cũng sẽ rất khó để đòi được. Nếu là làm ăn, chúng ta phải chấp nhận một quy luật lời ăn lỗ chịu, sẽ không thể có sự ấn định cho tỷ lệ lợi nhuận.

Thứ tư, ai là người sửa chữa, bảo dưỡng căn hộ?

Về mặt sở hữu, Condotel được chủ đầu tư cho là thuộc về người mua nhưng người mua lại không trực tiếp sử dụng mà do chủ đầu tư quản lý, kinh doanh. Do đó nếu phát sinh sự hư hỏng cần phải bảo trì, bảo dưỡng thì sẽ khó xác định đối tượng phải chịu trách nhiệm.

Thứ năm, khó khăn trong việc huy động tài chính

Xuất phát từ sự thiếu cơ sở pháp lý đối với condotel nên hiện nay rất ít dự án được sự hỗ trợ tài chính từ phía ngân hàng. Do đó, khách hàng mua Condotel ít được hưởng các ưu đãi về bảo lãnh ngân hàng, vay tiền mua condotel.

Thứ sáu, các chi phí dịch vụ, quản lý vận hành.

Cũng tương tự như các căn hộ chung cư thì Condotel cũng sẽ phải chi trả các khoản phí dịch vụ nếu đưa vào sử dụng. Phí dịch vụ đối với các căn hộ chung cư hiện nay được điều chỉnh bởi Luật nhà ở và sự quyết định của người sử dụng, do đó giá dịch vụ sẽ bị khống chế nhưng Condotel lại không phải là nhà ở do đó sẽ không có cơ chế để quản lý chi phí dịch vụ mà người dùng phải trả, đây sẽ là thiệt thòi cho khách hàng nếu chủ đầu tư tăng phí quản lý.

Thứ bảy, khi chủ đầu tư lạm quyền

Trong trường hợp chủ đầu tư thế chấp toàn bộ dự án để huy động vốn và khi không có khả năng trả nợ thì rủi ro sẽ thuộc về các khách hàng mua Condotel.

Việc cho phép thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai sẽ góp phần giải phóng nguồn lực lớn thúc đẩy thị trường bất động sản pháp triển, giải phóng hàng tồn kho và nhưng ách tắc của thị trường Tuy nhiên các chuyên gia pháp luật cho rằng phương án này tiềm ẩn không ít rủi ro cho người mua nhà… Mời quý vị đón xem đoạn video sau: