Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 22/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi , bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 (Luật sở hữu trí tuệ ) về quyền tác giả, quyền liên quan.
Trong đó, Nghị định quy định rõ về khai thác, sử dụng bản ghi âm, ghi hình. Cụ thể, tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 33 của Luật sở hữu trí tuệ phải trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.
Các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có thể thỏa thuận, thống nhất, ủy quyền đàm phán, thu tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất theo quy định của pháp luật. Tỷ lệ phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất thu được do các tổ chức này tự thỏa thuận.
Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan ủy quyền có trách nhiệm xây dựng danh mục hội viên, tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng của hội viên và chịu trách nhiệm khi ký hợp đồng ủy quyền cho tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan nhận ủy quyền đại diện đàm phán thỏa thuận, thu tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất.
Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan nhận ủy quyền chỉ có trách nhiệm đàm phán thỏa thuận thu tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất theo danh mục hội viên, tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được quy định tại hợp đồng ủy quyền.
Nghị định số 22/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ 10/04/2018.
Trong chuyên mục Góc nhìn Chuyên gia, kênh InfoTV, VTVcab9, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW đã có phần trả lời phỏng vấn về vấn đề Doanh nghiệp Việt Nam và vấn đề phòng vệ thương mại. Mời quý vị đón xem đoạn video sau:
Đây là nội dung đáng chú ý tại Nghị định số 38/2018/NĐ-CP về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) khởi nghiệp sáng tạo.
Theo đó, Chính phủ đã hướng dẫn việc thành lập quỹ đầu tư cho DNNVV khởi nghiệp sáng tạo như sau:
– Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo do tối đa 30 nhà đầu tư góp vốn thành lập trên cơ sở điều lệ quỹ và không có tư cách pháp nhân; quỹ này không được góp vốn vào quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo khác.
– Tài sản góp vốn có thể bằng Đồng Việt Nam, vàng, giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản khác có thể định giá bằng Đồng Việt Nam.
Nhà đầu tư không được sử dụng vốn vay để góp vốn thành lập quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.
– Danh mục và hoạt động đầu tư của quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo gồm:
+ Gửi tiền tại các ngân hàng thương mại;
+ Đầu tư không quá 50% vốn điều lệ của DNNVV khởi nghiệp sáng tạo sau khi nhận đầu tư.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký ban hành (ngày 11/3/2018).
Luật sư Trần Trung Kiên từ công ty luật SBLAW đã có phần chia sẻ những kiến thức quan trọng về khởi nghiệp trong khuôn khổ buổi đào tạo tại Topica Founder Institue. Mời quý vị đón xem đoạn video sau:
Ngày 11/3/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009.
Theo đó, Nghị định quy định chi tiết các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo từng lĩnh vực.
Cụ thể, trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ; doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm:
– Doanh nghiệp siêu nhỏ: có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ (trước đây không phân loại dựa vào vốn).
– Doanh nghiệp nhỏ: có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ (trước đây là 10 tỷ trở xuống).
– Doanh nghiệp vừa: có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ.
Ngoài ra, Nghị định còn hướng dẫn chi tiết chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh, khởi nghiệp sáng tạo, tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị.
Nghị định số 39/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 11/3/2018.
Luật sư Nguyễn Thanh Hà đã có phần trao đổi về những điểm mới của luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chương trình tiềm năng Việt Nam, kênh truyền hình Netviet-VTC10. Mời quý vị đón xem đoạn video sau:
Đây là nội dung của Nghị định số 31/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản Lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa.
Theo đó, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) lần đầu hoặc cho sản phẩm mới xuất khẩu lần đầu hoặc cho sản phẩm không cố định được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định 31.
– Hồ sơ theo quy định mới bổ sung thêm các giấy tờ sau:
+ Bảng kê khai chi tiết hàng hóa xuất khẩu đạt tiêu chí xuất xứ ưu đãi hoặc tiêu chí xuất xứ không ưu đãi theo mẫu;
+ Bản khai báo xuất xứ của nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp nguyên liệu có xuất xứ được sản xuất trong nước theo mẫu;
+ Bản sao quy trình sản xuất hàng hóa (đóng dấu sao y bản chính của thương nhân);
– Bên cạnh đó, vẫn giữ nguyên các giấy tờ, hồ sơ theo quy định trước đó, đơn cử như:
+ Đơn đề nghị cấp C/O (đã thay thế bằng Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định 31);
+ Mẫu C/O tương ứng đã được khai hoàn chỉnh; …
Nghị định số 31/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 08/3/2018, thay thế Nghị định số 19/2006/NĐ-CP và các Thông tư hướng dẫn của nghị định này.
Chuyên mục Tư Vấn Pháp Luật – Luật sư Nguyễn Thanh Hà trả lời câu hỏi của khán giả về vấn đề bổ sung dịch vụ kinh doanh trong giấy chứng nhận đầu tư khu công nghiệp. Mời quý vị đón xem đoạn video sau:
Đây là nội dung nổi bật tại Nghị định số 28/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản Lý ngoại thương về một số biện pháp phát triển ngoại thương.
Theo đó, Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại (Chương trình) bao gồm các hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) được thực hiện theo 07 tiêu chí sau:
– XTTM cho sản phẩm, ngành hàng có tiềm năng xuất khẩu của vùng kinh tế, quốc gia, phát triển thị trường xuất khẩu;
– Nâng cao hiệu quả nhập khẩu, phục vụ phát triển sản xuất trong nước và xuất khẩu;
– Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, ngoại thương theo từng thời kỳ;
– Chương trình được Thủ tướng ban hành, có cơ chế phối hợp của bộ, ngành; Bộ Công Thương chủ trì, đầu mối;
– XTTM xuất khẩu, nhập khẩu liên kết giữa các bộ, ngành, giữa các ngành hàng hoặc giữa các địa phương;
– Triển khai thông qua các đề án thực hiện Chương trình do cơ quan có thẩm quyền quyết định, được ngân sách nhà nước hỗ trợ;
– Đơn vị chủ trì đề án phải có uy tín, mang tính đại diện, có năng lực tổ chức.
Nghị định số 28/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2018 và Nghị định số 100/2011/NĐ-CP hết hiệu lực từ ngày Nghị định số 28/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.
Trong chương trình Luật sư doanh nghiệp của Kênh truyền hình kinh tế tai chính VITV, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, giám đốc công ty Luật S&B Law, cùng với các chuyên gia đã trao đổi về chế định hợp đồng thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam. Mời quý vị đón xem đoạn video sau:
Đây là nội dung nổi bật được quy định tại Nghị định số 163/2017/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ logistics. Theo đó:
Nhà đầu tư nước ngoài sẽ được mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp theo tỷ lệ khi kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải (quy định hiện hành chỉ cho phép thành lập công ty liên doanh).
Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước là thành viên của WTO khi kinh doanh dịch vụ logistics phải đáp ứng những điều kiện về tỷ lệ vốn góp và một số điều kiện sau:
– Dịch vụ vận tải biển (trừ vận tải nội địa): Tổng số thuyền viên nước ngoài làm việc trên tàu không quá 1/3 định biên của tàu; thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là người Việt Nam.
– Vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ thì 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.
Lưu ý: Thương nhân tiến hành 01 phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh bằng phương tiện điện tử có nối mạng Internet, mạng viễn thông di động; các mạng mở khác phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử.
Nghị định số 163/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/02/2018 và thay thế Nghị định số 140/2007/NĐ-CP.
Cổ phần hóa hãng phim truyện Việt Nam sau hơn 20 năm thua lỗ những tưởng là một việc tốt, là bước đệm để nền điện ảnh nước nhà sẽ cất cánh. Thế nhưng, những ngày qua dư luận đang bàn luận nhiều đến sự thiếu minh bạch trong việc cổ phần hóa Hãng phim truyện Việt Nam, khiến một thương hiệu điện ảnh lớn có nguy cơ biến mất. Một trong những lý do đầu tiên khiến các nghệ sỹ bức xúc, là việc xác định giá trị của hãng phim truyện. Không chỉ định giá thấp thương hiệu, dư luận băn khoăn khi cho rằng mục đích chính của nhà đầu tư chiến lược là nhằm vào quỹ đất của hãng phim, chứ không phải để vực lại thương hiệu vang bóng một thời. Nhất là khi việc cổ phần hóa lại được trao cho một đơn vị hoàn toàn không liên quan đến điện ảnh, Tổng Công ty vận tải thủy. Luật sư Nguyễn Thanh Hà đã phân tích về nôi dung này trong phóng sự của truyền hình ANTV. Mời quý vị đón xem đoạn video sau:
Uber rút khỏi Đông Nam Á, thế độc tôn trên thị trường sẽ thuộc về Grab. Không ít người tiêu dùng lo ngại, khi đã độc quyền, Grab có thể tăng giá cước và hạn chế ưu đãi, khuyến mãi.
Sáng 26/3, Grab phát đi thông báo hoàn thành việc mua lại toàn bộ hoạt động kinh doanh của Uber tại khu vực Đông Nam Á. Hãng này cho biết đây là thỏa thuận sáp nhập lớn nhất từ trước tới nay tại khu vực. Chi tiết và giá trị của bản hợp đồng không được tiết lộ, chỉ có thông tin Uber vẫn giữ 27,5% cổ phần trong Grab.
Grab cho biết sau khi mua toàn bộ Uber, hãng này sẽ tiếp tục củng cố vị trí hàng đầu của mình với vai trò là nền tảng chạy xe lớn nhất tại khu vực Đông Nam Á. Hiện tại, các hoạt động kinh doanh của Uber tại Campuchia, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam sẽ sáp nhập vào hệ thống của Grab.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì: “Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”.
Theo đó, Uber sẽ chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang Grab.
Đồng thời, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng có quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp như sau:
“Thực hiện nghĩa vụ về đạo đức kinh doanh để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng và người tiêu dùng”.
Chuyện sáp nhập là của doanh nghiệp, nhưng đối với người tiêu dùng khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng, việc Uber Đông Nam Á “đầu hàng” Grab và về “chung nhà” là một tin chẳng có gì lấy làm vui vẻ. Với thương vụ Grab mua lại Uber Đông Nam Á, về mặt quyền lợi, người tiêu dùng có lẽ mất hơn là được. Độc chiếm thị trường, Grab dễ dàng tự làm giá, giới tài xế dễ gặp tình cảnh “nếu không thích thì biến”, còn các chương trình khuyến mãi hay giảm giá dù không còn được như trước thì người tiêu dùng cũng không có lựa chọn nào khác, …
Tóm lại, quyền lợi của khách hàng luôn được cam kết bảo đảm trong hoạt động sáp nhập tại các văn bản pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, các quy định này vẫn mang tính chung và thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết của các cơ quan cấp dưới có thẩm quyền.
Người tiêu dùng thường được hưởng lợi nhiều nhất khi thị trường có sự cạnh tranh mạnh mẽ nhất. Chính vì thế lúc này, sự chú ý và kì vọng đang hướng về ứng dụng đặt xe Go-Jek lâu nay mới chỉ phổ biến tại Indonesia. Thông tin Go-Jek vào Việt Nam đã được dư luận từ khá lâu nhưng bây giờ chính là cơ hội chín muồi. Chúng ta là những người dùng và luôn mong muốn quyền lợi của mình được bảo vệ ở mức tốt nhất. Chúng ta có thể vẫn sử dụng dịch vụ của Grab nhưng mong muốn lớn hơn là thị trường luôn có sự cạnh tranh để tránh tình trạng độc chiếm và độc quyền.
Đây là nội dung mới nổi bật tại Nghị định số 14/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động thương mại biên giới.
Theo đó, Nghị định chỉ rõ thương nhân được thực hiện mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới Trung Quốc, Lào, Campuchia bao gồm:
– Thương nhân Việt Nam: Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật (theo quy định hiện hành thì cá nhân không thuộc đối tượng điều chỉnh).
– Thương nhân có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, công ty và chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam thực hiện mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới theo cam kết của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Ngoài ra, Nghị định 14 cũng có nhiều quy định mới so với quy định hiện hành; đơn cử như đã bỏ chế định về Ban chỉ đạo thương mại biên giới được quy định tại Chương VII Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg.
Nghị định số 14/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/01/2018.
Trong chuyên mục Tư vấn pháp luật, của chương trình Luật sư của doanh nghiệp, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLaw đã giới thiệu về thủ tục thành lập hộ kinh doanh và các vấn đề liên quan. Mời quý vị đón xem đoạn video sau:
Hiện nay, nhiều hãng dịch viễn thông ở Việt Nam cung cấp phần mềm theo dõi tin nhắn cuộc gọi của con cho các vị phụ huynh.
Các dịch vụ này đặt ra các vấn đề pháp lý phát sinh, luật sư Nguyễn Thanh Hà từ SBLAW đã trả lời cho Zing.vn những nội dung xoay quanh vấn đề này.
Câu hỏi: Dựa trên những nội dung của dịch vụ giúp bố mẹ quản lý điện thoại của con cái, luật sư đánh giá nó đã phù hợp với pháp luật hiện hành trong kinh doanh dịch vụ cũng như quy định về đảm bảo quyền trẻ em chưa ạ?
Trả lời: Theo quy định tại điều 21 luật trẻ em về quyền bí mật đời sống riêng tư có quy định:
Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.
Khi các nhà mạng cung cấp dịch vụ nêu trên và được sự đồng ý của các con thì không vi phạm quy định tại điều 21, đây cũng là dịch vụ giúp bố mẹ bảo vệ các con để tránh các tình huống xấu xảy ra.
Câu hỏi: Mặc dù việc đăng kí dịch vụ có giới hạn độ tuổi và có sự xác nhận đồng ý của con cái, theo luật sự việc bố mẹ kiểm soát như vậy có ảnh hưởng đến quyền riêng tư cá nhân của con cái?
Trả lời: Nếu dịch vụ này được cung cấp một cách bí mật, chỉ có bố mẹ theo dõi tin nhắn và cuộc gọi của con gái, không thông báo cho con biết là bố mẹ theo dõi thì mới vi phạm quyền riêng tư theo quy định nêu trên của luật trẻ em.
Còn nếu có sự đồng thuận và cha mẹ giải thích, mục đích thực sự của hành đồng này thì tôi nghĩ không ảnh hưởng tới quyền riêng tư cá nhân của con cái.
Câu hỏi: Những hình thức quản lý điện thoại này có thể coi là một trong những biện pháp bố mẹ đảm bảo nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ con cái trong độ tuổi vị thành niên hay không?
Trả lời: Cũng là người làm cha, tôi nhận thấy, trẻ em hiện nay đối mặt với nhiều rủi ro và đòi hỏi gia đình phải quan tâm, kiểm soát và bảo vệ con cái khỏi những rủi ro đó.
Có nhiều biện pháp có thể được áp dụng trong đó có các biện pháp về công nghệ, tuy nhiên, trước khi áp dụng các biện pháp này, rất cần các vị cha mẹ phải giải thích cho con hiểu và tránh sự hiểu nhầm, tổn thương.
Tôi còn biết, ở nhiều nước, đối với những gia đình giàu có, còn có vệ sỹ theo để bảo vệ con cái 24/24, đây có thể là biện pháp an toàn nhất với con cái, tránh mọi rủi ro về bắt cóc và rủi ro khác.
Vụ cháy xảy ra tại chung cư Carina Plaza rạng sáng 23/3 khiến 13 người chết, nhiều người bị thương và rất nhiều căn hộ bị hư hỏng, …Vậy những thiệt hại trên sẽ được giải quyết như thế nào?
Trước hết phải điều tra nguyên nhân để cá thể hóa trách nhiệm
Vụ việc xảy ra có hậu quả, thiệt hại rất nghiêm trọng. Tuy nhiên, để xác định trách nhiệm đền bù về tài sản hay bồi thường thiệt hại trong vụ việc thì trước hết cần xác định được nguyên nhân của vụ cháy, bên nào đã có những vi phạm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như vậy.
Theo điều tra ban đầu của cơ quan điều tra, nguyên nhân phát cháy từ một xe máy. Từ chiếc xe này đã cháy lan sang các phương tiện khác và cháy sang các khu chung cư phía trên. Như vậy, cần phải xác định nguyên nhân cháy nổ từ phương tiện này là hành vi có chủ ý hay vô ý.
Nếu có căn cứ xác định, chủ phương tiện có hành vi cố ý gây cháy nổ thì với hậu quả xảy ra sẽ phải chịu trách nhiệm tương ứng về Tội giết người (Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015) và Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015). Ngoài ra, nếu đối tượng thực hiện hành vi phạm tội vì động cơ chính trị, nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì sẽ phải chịu trách nhiệm về Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân theo quy định tại Điều 113 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bên cạnh đó, cần xem xét hệ thống PCCC tại đây, từ khâu thiết kế cho đến khâu quản lý, vận hành, bảo trì thậm chí là việc kiểm tra, chấp thuận. Cụ thể, trong trường hợp này cần xem xét chủ đầu tư trực tiếp thực hiện quản lý vận hành hay là sử dụng dịch vụ từ đơn vị quản lý vận hành khác. Việc này được thực hiện trên cơ sở hợp đồng. Nên nếu chất lượng công việc không được đảm bảo, hệ thống PCCC không hoạt động tốt hay thậm chí là không hoạt động dẫn đến thiệt hại nặng nề thì có trách nhiệm của đơn vị quản lý vận hành, bảo trì nhà chung cư. Nếu đơn vị quản lý vận hành, bảo trì nhà chung cư mà không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng quy định của luật PCCC dẫn tới hậu quả đặc biệt nghiêm trọng sẽ phải chịu trách nhiệm về Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy (Điều 313 Bộ luật hình sự năm 2015).
Cư dân được bồi thường thiệt hại thế nào?
Thứ nhất, trường hợp xác định người có lỗi (vô ý hay cố ý) gây cháy nổ dẫn tới thiệt hại, ngoài trách nhiệm hình sự thì phải chịu trách nhiệm bồi thường dân sự theo quy định tại các Điều 589, 590, 598 Bộ luật dân sự năm 2015.
Thứ hai, nếu người của pháp nhân gây ra thì pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, trường hợp cháy nổ được xác định là rủi ro.
Theo khoản 9 Điều 38 Thông tư 02/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng ban hành quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư, chủ đầu tư dự án xây dựng nhà chung cư có trách nhiệm mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc theo quy định của Luật Phòng cháy, chữa cháy và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm. Khi xảy ra hỏa hoạn người dân sẽ được bảo hiểm chi trả trừ một số trường hợp loại trừ trách nhiệm được ghi trong hợp đồng bảo hiểm các bên ký kết như do tác nhân con người gây ra.
Trường hợp cư dân đã đóng tiền mua bảo hiểm nhưng Ban quản trị không mua hoặc chưa mua thì họ có trách nhiệm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các chủ hộ. Đối với những cá nhân, chủ hộ trong chung cư mà không mua bảo hiểm thì sẽ không được bồi thường.
Thông tư 220/2010/TT-BTC hướng dẫn thực hiện chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc quy định về mức phí tham gia bảo hiểm cháy nổ đối với mỗi căn hộ là khác nhau, dựa theo tỷ lệ diện tích. Do đó, việc chi trả bảo hiểm sẽ được thực hiện theo tỷ lệ mức phí mà người dân tham gia bảo hiểm đã đóng. Đối với các tài sản gắn liền với căn hộ thì mức chi trả cũng sẽ được tính theo tỷ lệ này.
Đối với những thiệt hại nằm ngoài phạm vi bảo hiểm thì người dân có thể yêu cầu người có lỗi bồi thường thiệt hại. Nguyên tắc bồi thường là thiệt hại thực tế và cư dân phải có nghĩa vụ chứng minh. Nhưng khó khăn lớn nhất khi yêu cầu người có lỗi bồi thường chính là thiện chí và khả năng tài chính
Câu hỏi: Gia đình tôi có mua một lô đất diện tích 6m x 20m hoàn toàn vuông vức cách đây 3 năm, và năm nay quyết định xây nhà. Nhưng khi người ta đo lại lô đất để lập mốc xây dựng thì phần đất bị méo nghiêng đi so với trong sổ đỏ. Gia đình chúng tôi không đồng ý và yêu cầu được đo đạc lại chính xác như trong sổ đỏ thì bên quản lí quỹ đất lại cố tình không muốn giải quyết. Vậy xin hỏi luật sư vấn đề này chúng tôi phải làm thế nào để có được lại lô đất như trong sổ đỏ, có phải kiện lên Tòa án nhân dân không?
Luật sư tư vấn:
Công ty Luật TNHH SB LAW cảm ơn bạn đã quan tâm đến dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Liên quan đến thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Căn cứ Điều 100 Luật đất đai quy định về việc Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất.
“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;
g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.
– Căn cứ Điều 203 Luật đất đai quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:
“Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành”.
Theo như thông tin bạn cung cấp thì quản lý đất đai cố tình không giải quyết thắc mắc về chênh lệch đất trong khi chủ đất có sổ đỏ ghi rõ số liệu diện tích đất sử dụng. Vậy bạn có thể làm đơn lên Uỷ ban nhân dân cấp xã để được giải quyết và nếu như có tranh chấp thêm về tài sản gắn liền với đất thì thẩm quyền giải quyết là tòa án nhân dân.
Luật sư Nguyễn Thanh Hà cùng các chuyên gia pháp lý thảo luận về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong chương trình kinh doanh và Pháp luật trên kênh VTV2. Mời quý vị đón xem: